Tấn công vào các nhà máy khử mặn, một nguy cơ tiềm ẩn trong chiến tranh Trung Đông
TVN
Sau 20 ngày chiến tranh Trung Đông, mặc dù mới có 2 cuộc tấn công vào các nhà máy lọc nước biển (nhà máy khử mặn, khử muối), nhưng giới chuyên gia lo ngại là sau các cơ sở khai thác và lọc dầu, các nhà máy lọc nước biển tại Trung Đông, nhất là ở vùng Vịnh, sẽ trở thành mục tiêu bị nhắm tới. Nếu vậy, đây sẽ là một kịch bản thảm khốc, một cơn ác mộng cho người dân khu vực thuộc loại nóng nực, khô cằn, có nguồn nước ngọt khan hiếm nhất thế giới.
Một tuần sau khi Mỹ và Israel chung sức oanh tạc ồ ạt Iran, giết chết giáo chủ Ali Khamenei và nhiều quan chức chóp bu của chế độ giáo sĩ Hồi giáo Iran, đến ngày 07/03/2026, ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi tố cáo Mỹ không kích một nhà máy lọc nước biển trên đảo Qeshm, gây ảnh hưởng tới việc cấp nước sạch cho 30 làng, một hành động có thể cấu thành tội ác chiến tranh. Teheran đồng thời tố cáo « Mỹ gây ra một tiền lệ, chứ không phải Iran ». Mặc dù bộ chỉ huy Hoa Kỳ bác bỏ cáo buộc của Teheran, tổng thống Mỹ cũng không xác nhận thông tin, nhưng ngay ngày hôm sau, Bahrein, một quốc gia nhỏ tại Vùng Vịnh, đồng minh của Mỹ, cho biết các drone của Iran đã đánh trúng, gây hư hại cho nhà máy khử mặn nước biển của Bahrein.
Trước đó, theo AP, hôm 02/03, Koweit ghi nhận nhiều vụ oanh tạc của Iran nhắm vài gần một nhà máy lọc nước biển của Koweit. Cùng ngày, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất cũng thông báo cảng Jebel Ali bị nhắm tới, cách đó 20km là một trong những nhà máy khử nước mặn lớn nhất thế giới, đảm bảo việc cung cấp phần lớn nước ngọt cho thành phố Dubai.
Các vụ tấn công nhắm vào một số nhà máy lọc nước biển ở Trung Đông đã làm dấy lên nhiều lo ngại, thậm chí được xem là « tín hiệu báo động mạnh » về nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh mới về nước, bởi vì các nhà máy khử mặn, lọc nước biển để cung cấp nước ngọt được xem là những huyết mạch, là cơ sở hạ tầng thiết yếu của các nước Trung Đông, nhất là vùng Vịnh. Nguồn nước ngọt tự nhiên tại những quốc gia này được gọi là « vàng xanh » do khan hiếm. Không phải vô cớ mà thay vì gọi Trung Đông là « các quốc gia dầu lửa », Michael Christopher Low, giám đốc trung tâm Trung Đông, Đại học Utah của Mỹ, xem đây là « các Vương quốc nước mặn ».
Tạp chí L’Obs trích dẫn Ngân Hàng Thế Giới, cho biết lượng nước ngọt ở Trung Đông chỉ bằng 1/10 lượng trung bình của thế giới, nhưng lượng nước tiêu thụ lại rất cao. Chuyên gia Esther Crauser-Delbour, kinh tế gia về nước, giải thích với L’Obs : « Tại Pháp, trung bình, mỗi người dùng 150 lít nước/ngày. Nhưng ở các thành phố như Riyad hay Dubai, con số này là 400 lít nước/người/ngày ».
Giải thích trên trang mạng nghiên cứu The Conversation và được France Info dẫn lại, ông Michael Christopher Low cho biết « khoảng 60% khả năng lọc nước biển của toàn thế giới tập trung tại Trung Đông, và chỉ riêng các nhà máy gần Iran, quanh vịnh Ba Tư và biển Ả Rập, sản xuất tới hơn 30% lượng nước khử mặn của thế giới ». 42% nước sạch ở Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có được là do đã được các nhà máy xử lý khử mặn. Tỉ lệ này là 70% ở Ả Rập Xê Út, thậm chí lên tới 86% ở Oman và 90% ở Koweit. Theo báo Mỹ Wall Street Journal, Bahrein gần như lệ thuộc 100% vào hệ thống nhà máy khử mặn nước biển để phục vụ 1,6 triệu dân.
Nói tóm lại, như Isabel Ruck, phụ trách nghiên cứu và điều phối khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Chính Trị Ả Rập (Carep), Paris, được France Info trích dẫn ngày 11/03, « Không có các nhà máy lọc nước biển, thì sẽ không thể có các thành phố như Doha, Abou Dhabi, Dubai như ngày nay. Trong vùng, sự phát triển kinh tế và đô thị hóa đều liên quan đến các cơ sở này ».
Không xa vùng Vịnh, nước sinh hoạt của Israel cũng lệ thuộc tới hơn 80% vào các nhà máy lọc nước biển. Iran thì khả dĩ hơn, dù không lệ thuộc vào các nhà máy khử muối trong nước như các quốc gia Vùng Vịnh (nước khử mặn chỉ chiếm 2-3% lượng nước tiêu thụ ở Iran, theo L’Obs), nhưng Iran những tháng gần đây cũng phải đối phó với tình trạng khô hạn nghiêm trọng, thiếu mưa. Teheran đã từng phải nêu lên khả năng di tản dân cư khỏi thủ đô.
Gót chân Achille của Trung Đông
Vấn đề nằm ở chỗ là mặc dù là cơ sở hạ tầng mang tính sống còn với khu vực, là những huyết mạch cung cấp nước ngọt nhưng các nhà máy khử muối, lọc nước biển lại dễ hứng chịu tác động từ bên ngoài.
Thứ nhất, theo giải thích của chuyên gia Isabel Ruck của Trung tâm Nghiên cứu Chính Trị Ả Rập (Carep), Paris, các nhà máy này không được bảo vệ chống lại các cuộc oanh tạc.
Lường trước nguy cơ các nhà máy lọc nước biển bị tấn công, Philippe Bourdeaux, giám đốc văn phòng khu vực Châu Phi/Trung Đông của công ty Veolia của Pháp, đơn vị cung cấp nước khử muối cho các vùng Muscat, Sur và Salalah ở Oman, và Jubail ở Ả Rập Xê Út, giải thích với France Info : « Chúng tôi đã tăng cường an ninh và kiểm soát ra vào ở khu vực lân cận các nhà máy … Những sự kiện gần đây đã khiến chúng tôi phải hết sức cảnh giác ». Ông đồng thời cho biết thêm rằng « ở một số quốc gia, chính quyền đã triển khai các hệ thống tên lửa xung quanh các nhà máy lớn nhất ».
Ngoài ra, là các nguy cơ tấn công tin tặc : « Không cần phóng drone để khiến một nhà máy ngừng hoạt động, mà ví dụ chỉ cần thay đổi nồng độ chlore trong nước ».
Cũng phải kể tới nguy cơ các tàu chở dầu trong Vùng Vịnh bị tấn công làm dầu chảy lan ra đúng vị trí mà các nhà máy thường hút nước biển để khử mặn. Từ đầu chiến tranh, Iran đã nhận trách nhiệm tấn công một số tàu chở dầu ở Vịnh Ba Tư hoặc ở eo biển Hormuz. L’Obs trích dẫn kinh tế gia về nước Esther Crauser-Delbour, theo đó nước biển bị ô nhiễm, nhất là do thủy triều đen, vẫn có thể được lọc sạch và khử mặn, nhưng quá trình lọc trở nên phức tạp hơn và sẽ tiêu tốn nhiều năng lượng hơn, trong khi các nhà máy này vốn dĩ đã “ngốn” rất nhiều năng lượng.
Thứ tư là các nhà máy lọc nước biển vận hành nhờ các nhà máy nhiệt điện, nên nếu các nhà máy nhiệt điện hoặc các cơ sở khai thác dầu bị tấn công trúng thì hoạt động của các cơ sở khử mặn cũng chịu tác động liên đới, có nguy cơ phải ngừng hoạt động, bởi vì khử mặn là quá trình tiêu tốn nhiều năng lượng. Thường thì cần hơn 1 kilowatt giờ cho mỗi mét khối nước được xử lý. Theo một phân tích của IEA, Cơ quan Năng lượng Quốc tế, năng lượng được sử dụng để khử mặn trong nước ở Trung Đông năm 2023 tương đương với gần 50% năng lượng tiêu thụ của dân cư trong khu vực và chiếm 7% tổng tiêu thụ năng lượng ở Trung Đông.
Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã đầu tư vào các hệ thống dự phòng để ít bị tổn thương hơn trước các sự cố gián đoạn năng lượng. Báo kinh tế Les Echos của Pháp trích dẫn nội dung một bản ghi nhớ của đại sứ quán Mỹ tại Ả Rập Xê Út, mà WikiLeaks tiết lộ năm 2008, theo đó « thành phố Riyad cần được sơ tán chỉ sau chưa đầy một tuần nếu nhà máy khử muối, đường ống dẫn hoặc cơ sở hạ tầng điện liên quan bị hư hại nghiêm trọng ». Chỉ riêng điều này đã cho thấy sự phụ thuộc của các quốc gia vùng Vịnh vào các nhà máy khử muối.
Những quốc gia nhỏ như Bahrein, Qatar và Koweit, còn có nguồn dự trữ hạn chế hơn. Và theo chuyên gia Isabel Ruck, các quốc gia trên bán đảo Ả Rập chỉ có thể hoạt động trong vòng 5 ngày nếu các nhà máy lọc nước bị tấn công. Và đây « thực sự là một vấn đề chiến lược vô cùng lớn ».
Bài học từ Chiến tranh vùng Vịnh
Đây không phải là lần đầu tiên các cơ sở lọc nước biển bị một bên tham chiến nhắm mục tiêu. Trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990-1991, lực lượng Irak đã phá hoại các nhà máy khử muối khi rút khỏi Koweit, và gần như đã gây ra một thảm họa, theo lời kể của Michael Christopher Low, giám đốc Trung tâm Trung Đông tại Đại học Utah, với AP. Đồng thời, hàng triệu thùng dầu đã tràn ra Vịnh Ba Tư, gây ra một trong những vụ tràn dầu tồi tệ nhất trong lịch sử và đe dọa các đường ống dẫn nước biển cung cấp cho các nhà máy khử mặn trong nước. Các phao chắn nổi đã phải được triển khai khẩn cấp để bảo vệ các nhà máy chính trong vùng.
Theo TV5, tình báo Mỹ CIA đã rút kinh nghiệm từ sự kiện này. Trong một phân tích năm 2010, CIA cảnh báo « việc gián đoạn hoạt động của các nhà máy khử muối ở hầu hết các quốc gia Ả Rập có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn so với việc mất mát bất kỳ ngành công nghiệp hoặc nguyên liệu thô nào khác ».
Theo RFI