Đâu là hồi kết cho cuộc chiến Mỹ- Israel- Iran?

Colin H. Kahl

0 81

Sương mù chiến tranh đang bao trùm dày đặc Iran, nhưng có hai điều đã hiện rõ mồn một. Không còn ai có thể nghi ngờ sức mạnh quân sự vô song mà Mỹ và Israel đã phô diễn. Kể từ ngày 28 tháng 2, lực lượng Mỹ và Israel đã tiêu diệt Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei cùng các chỉ huy cao cấp của Quân đoàn Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, tấn công hàng ngàn mục tiêu quân sự trên khắp Iran, đồng thời làm suy yếu đáng kể các bệ phóng tên lửa, kho chứa drone và các khí tài hải quân của nước này. Cũng không ai nên nghi ngờ sự tàn bạo của chế độ Iran mà họ đang nhắm tới, một chế độ đã dành nhiều thập kỷ để sát hại người Mỹ, ngược đãi chính nhân dân mình, đe dọa các nước láng giềng bằng tên lửa và các lực lượng ủy nhiệm khủng bố, đồng thời chạy đua xây dựng chương trình hạt nhân.

Nhưng còn quá nhiều điều khác về cuộc chiến tranh tự lựa chọn này vẫn chưa rõ ràng, và những câu hỏi lớn nhất vẫn chưa được chính quyền Trump giải đáp. Cụ thể hơn, cuộc chiến này sẽ kết thúc như thế nào? Và những hệ lụy chiến lược cuối cùng của canh bạc Iran sẽ là gì? Lịch sử các cuộc can thiệp quân sự của Mỹ đưa ra một bài học nhất quán: những cuộc chiến bắt đầu mà không có mục tiêu chính trị rõ ràng hiếm khi kết thúc tốt đẹp. Khi các mục tiêu chính trị không được xác định hoặc còn gây tranh cãi, cuộc chiến sẽ thiếu đi một điểm dừng logic. Những thành công về mặt chiến thuật sẽ làm dấy lên câu hỏi tiếp theo là gì, trong khi những bước lùi chiến thuật lại trở thành cái cớ để dấn sâu hơn. Nhiệm vụ mở rộng, thời gian kéo dài, và lý do ban đầu dần mờ nhạt khi cuộc chiến tự tạo ra động lực của riêng nó. Nhà lý luận quân sự người Phổ thế kỷ 19 Carl von Clausewitz đã có câu nói nổi tiếng rằng chiến tranh là sự tiếp nối của chính trị bằng các phương tiện khác. Nhưng hệ quả của nó cũng quan trọng không kém: không có mục đích chính trị rõ ràng, chiến tranh tự nó sẽ trở thành mục đích.

Thế tiến thoái lưỡng nan của kẻ đứng ngoài

Các mục tiêu của Washington khi phát động cuộc chiến ở Iran còn rất mơ hồ. Chính quyền Trump bắt đầu cuộc chiến với mục tiêu đã tuyên bố là thay đổi chế độ. “Hãy tự tiếp quản chính phủ của các bạn”, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói trong một video đăng trên Truth Social vào ngày 28 tháng 2. “Đây có lẽ là cơ hội duy nhất của các bạn trong nhiều thế hệ”. Tuy nhiên, trong những ngày sau đó, các quan chức chính quyền lại đưa ra những thông tin trái ngược. Liệu mục tiêu là lựa chọn một chính phủ “dễ chấp nhận” hơn, như cách Mỹ đã làm ở Venezuela? Hay là một sự “đầu hàng vô điều kiện”? Là để phá hủy chương trình hạt nhân? Hay đơn giản là khiến bất cứ ai còn sống sót không còn khả năng phô trương sức mạnh quân sự rồi tuyên bố chiến thắng? Việc xác định rõ mục tiêu rất quan trọng, bởi vì đạt được mục tiêu thay đổi chế độ, thay đổi hành vi, chấm dứt chương trình hạt nhân và làm suy yếu khả năng phô trương sức mạnh của Iran không phải là các biến thể của cùng một mục tiêu. Chúng đòi hỏi những cuộc chiến cơ bản khác nhau, với nguồn lực, mốc thời gian, định nghĩa về chiến thắng và kế hoạch hậu xung đột khác nhau.

Sự bất định này càng được củng cố trong những ngày gần đây khi ông Trump gửi đi những tín hiệu mâu thuẫn về thời gian kéo dài của cuộc chiến. Vào thứ Hai, ông tìm cách xoa dịu thị trường và kìm hãm giá dầu đang tăng vọt bằng cách gợi ý rằng quân đội Mỹ đang “vượt xa kế hoạch” và cuộc chiến có thể sớm kết thúc. Nhưng chỉ vài giờ sau, ông lại rút lời. “Chúng ta đã thắng về nhiều mặt, nhưng vẫn chưa đủ”, ông nói với một nhóm các nhà lập pháp Đảng Cộng hòa, và thêm rằng: “Chúng ta tiến công với quyết tâm cao hơn bao giờ hết để đạt được chiến thắng cuối cùng, nhằm chấm dứt mối nguy hiểm kéo dài này một lần và mãi mãi”.

Sự mơ hồ về chiến lược đẩy cả người dân Iran lẫn quân đội Mỹ vào thế bí. Nhiều người Iran đã ăn mừng cái chết của Khamenei và muốn thấy chế độ sụp đổ. Các quan chức tình báo Mỹ được cho là nhận định việc thay đổi chế độ khó có thể xảy ra. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu những người Iran dũng cảm nắm lấy cơ hội lịch sử mà ông Trump tuyên bố đã mang lại, và chế độ đáp trả bằng bạo lực cực đoan, như họ đã làm vào tháng Giêng khi sát hại hàng ngàn người biểu tình dân sự?

Lịch sử đưa ra những lời cảnh báo nghiệt ngã. Sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, Tổng thống Mỹ George H. W. Bush đã khuyến khích người Iraq nổi dậy—và rồi đứng nhìn từ bên ngoài khi Tổng thống Iraq Saddam Hussein tàn sát họ. Tại Libya năm 2011, chính quyền Obama đã làm ngược lại—can thiệp để bảo vệ thường dân đang thách thức nhà độc tài Muammar al-Qaddafi, chỉ để thấy việc thay đổi chế độ dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước và nội chiến. Ngày nay, nếu người Iran nổi dậy và chế độ đàn áp, ông Trump sẽ đối mặt với một tình thế lưỡng nan tương tự: đứng ngoài với cái giá rất đắt cho uy tín của Mỹ, hoặc dấn thân hoàn toàn và đối mặt với rủi ro sa lầy, vướng mắc và hỗn loạn.

Thay vì giải quyết tình thế lưỡng nan này, chính quyền Trump dường như đang làm cho nó trở nên trầm trọng hơn. Khi triển vọng thay đổi chế độ trong ngắn hạn mờ nhạt dần, cả Mỹ và Israel dường như đang có ý định kích động sự phân rã nội bộ như một phương án dự phòng. Các báo cáo chỉ ra rằng CIA đang vũ trang cho các lực lượng dân quân người Kurd ở Iran tại miền bắc Iraq, trong khi Israel ném bom các tiền đồn biên giới, đồn cảnh sát và các vị trí quân sự dọc biên giới phía bắc Iran-Iraq để dọn đường. Trong những ngày gần đây, ông Trump đã gợi ý rằng ông đang rút lui khỏi kế hoạch này, nhưng Israel thì không. Thật vậy, các nhà lãnh đạo Israel dường như coi việc gây mất ổn định Iran là một phương án dự phòng ưa thích nếu việc thay đổi chế độ tỏ ra bất khả thi, có khả năng đẩy Iran vào tình trạng phân rã quốc gia như đã thấy ở Libya, Syria và Iraq sau năm 2003. Ở một đất nước 90 triệu dân nằm tại ngã tư của lục địa Á-Âu, kết quả đó sẽ gây mất ổn định sâu sắc, không chỉ đối với người Iran mà còn đối với lợi ích của Mỹ trong khu vực và xa hơn thế.

Trong thế phòng thủ

Ngay cả khi cuộc chiến kết thúc vào ngày mai, một vài câu hỏi và hệ lụy chiến lược lớn vẫn sẽ còn tồn tại. Một là vấn đề hạt nhân—và ở đây, sự mơ hồ về cách đạt được mục tiêu chấm dứt chương trình hạt nhân Iran của ông Trump thực sự đáng báo động. Tháng 6 năm ngoái, các thanh tra của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) ước tính rằng Iran nắm giữ hơn 400 kg uranium được làm giàu ở mức 60%—đủ nguyên liệu phân hạch, nếu được xử lý thêm, cho khoảng mười vũ khí hạt nhân. Sau các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran vào cuối tháng đó, IAEA không còn có thể xác nhận quy mô và vị trí của kho dự trữ này. Nói một cách đơn giản, hiện nay không ai biết chính xác hàng trăm kg nguyên liệu phân hạch gần mức vũ khí này đang ở đâu hoặc làm thế nào để tiếp quản chúng.

Một Iran bị tổn thương có thể bước ra từ cuộc xung đột hiện tại với quyết tâm cao hơn nữa trong việc vũ khí hóa năng lượng hạt nhân còn sót lại để răn đe các cuộc tấn công tương lai. Vấn đề này không thể được giải quyết chỉ bằng ném bom. Nếu không đưa một lượng lớn bộ binh Mỹ hoặc Israel vào để đảm bảo an toàn cho số vật liệu này, một lựa chọn cực kỳ rủi ro mà ông Trump được cho là đã cân nhắc, thì chính quyền sẽ cần phải đưa ra một kế hoạch cụ thể cho việc giám sát hậu xung đột, một kế hoạch tập trung cụ thể vào việc xác minh vị trí kho dự trữ hiện có của Iran và tiếp quản vật liệu đó trước khi nó có thể được vũ khí hóa. Nhưng đây chính là loại chiến lược ngoại giao không thể phát triển được khi các mục tiêu cuối cùng của cuộc chiến vẫn chưa được xác định.

Bên cạnh những câu hỏi về mục tiêu tức thời của cuộc chiến là những câu hỏi lớn hơn nữa về hệ lụy đối với việc bảo vệ lợi ích của Mỹ trên toàn thế giới. Trước cuộc chiến, Tướng Dan Caine, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, được cho là đã bày tỏ lo ngại sâu sắc rằng một cuộc xung đột cường độ cao, kéo dài ở Trung Đông có thể làm cạn kiệt các loại đạn dược quan trọng của Mỹ, làm giảm khả năng sẵn sàng đáp trả các mối đe dọa ở nơi khác. Những ngày đầu của cuộc chiến hiện tại đã xác thực những lo ngại đó. Mỹ đã tiêu tốn một lượng lớn kho dự trữ đạn dược tấn công tầm xa và các loại tên lửa đánh chặn phòng không cao cấp, vốn có số lượng hạn chế, để bảo vệ các căn cứ Mỹ, các quốc gia vùng Vịnh và Israel khỏi các đợt mưa tên lửa và drone của Iran. Với việc kho đạn dược của Mỹ đã bị kéo căng và nền công nghiệp quốc phòng đang chật vật để tăng tốc sản xuất đủ nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu cho các tình huống tiềm tàng với Trung Quốc hoặc Nga trong tương lai, Lầu Năm Góc có nguy cơ phải nhận một chiến thắng kiểu Pyrrhic”, một chiến thắng mà thành công ở Iran khiến Mỹ mất khả năng răn đe hoặc đánh bại sự xâm lược lớn ở bất kỳ nơi nào khác.

Thách thức đó còn phức tạp hơn bởi viễn cảnh hàng chục ngàn binh sĩ Mỹ sẽ cần phải ở lại Trung Đông trong nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi các chiến dịch tác chiến lớn kết thúc, bị trói buộc bởi các nhiệm vụ kiềm chế hậu chiến, các hoạt động trấn an đối tác vùng Vịnh đang lo âu, và yêu cầu thực hiện các cuộc không kích định kỳ khi Iran tất yếu cố gắng tái thiết quân đội. Đó chính xác là những gì đã xảy ra sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, cuộc chiến đã thiết lập sự hiện diện thường trực của các căn cứ Mỹ tại Trung Đông để kiềm chế Saddam Hussein tồn tại cho đến tận ngày nay. Giờ đây, đây chính là vũng lầy mà những người ủng hộ cuộc chiến tuyên bố đang thoát khỏi bằng cách chấm dứt mối đe dọa từ Iran một lần và mãi mãi. Thế nhưng Washington có thể một lần nữa đang lội thẳng vào chính vũng lầy đó.

Có một nghịch lý đau đớn ở đây. Sự phô diễn sức mạnh quân sự của Mỹ là vô cùng ấn tượng, và các đối thủ sẽ phải lưu tâm. Nhưng Mỹ có thể bước ra khỏi cuộc chiến này trong tình trạng dàn trải quân lực quá mức, cạn kiệt nguồn lực, mất thế bố trí quân sự và do đó yếu thế hơn so với Trung Quốc và Nga trong nhiều năm tới.

Hồi kết

Câu hỏi lớn nhất có lẽ là cuộc chiến này có ý nghĩa gì đối với trật tự quốc tế tương lai. Cho đến nay trong năm nay, Mỹ đã tiến hành hai chiến dịch quân sự lớn—nhắm vào Venezuela và Iran—mà không có các liên minh quốc tế rộng rãi, không có sự cho phép của Liên Hợp Quốc, hoặc một nền tảng pháp lý vững chắc. Chính quyền Trump đã phát động cuộc chiến này mà không có một cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội và không đưa ra các bằng chứng tình báo cho người dân Mỹ theo cách mà ngay cả trường hợp đầy sai sót của cuộc chiến Iraq đã thực hiện trong những tháng trước khi xâm lược.

Các nhà lãnh đạo ở Moscow và Bắc Kinh đang theo dõi sát sao cuộc xung đột đang diễn ra, không phải vì họ phản đối việc tiêu diệt các đối thủ—họ không phản đối—mà vì việc Mỹ sẵn sàng hành động đơn phương, nằm ngoài các rào cản pháp lý truyền thống, khiến Washington mất đi vị thế chính nghĩa nếu và khi Nga tiến hành các cuộc xâm lược sâu hơn đối với các nước láng giềng hoặc Trung Quốc động binh với Đài Loan. Mỗi chuẩn mực mà Mỹ làm xói mòn lúc này là một chuẩn mực mà họ không thể buộc kẻ khác phải tôn trọng trong tương lai.

Các cuộc chiến không được đánh giá qua việc chúng bắt đầu tốt ra sao. Chúng được đánh giá qua cách chúng kết thúc—và qua việc liệu quốc gia khơi mào cuộc chiến mạnh hơn hay yếu đi khi tiếng súng cuối cùng lặng xuống. Các binh sĩ Mỹ đang thực thi các chiến dịch này với sự chuyên nghiệp phi thường, nhưng điều đó không thể thay thế cho sự rõ ràng về mục đích. Những câu hỏi đang được đặt ra quá yếu ớt lúc này chính là những câu hỏi cuối cùng sẽ quyết định liệu cuộc chiến này có đáng để đánh hay không.

Nguồn: Colin H. Kahl, “What Is the Endgame in Iran?”, Foreign Affairs, 10/03/2026

COLIN H. KAHL là Giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc tế Freeman Spogli tại Đại học Stanford và từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ phụ trách Chính sách từ năm 2021 đến 2023.

Leave A Reply

Your email address will not be published.