Iran và Ả Rập Saudi cùng coi Hồi giáo như quốc giáo nhưng có sự khác biệt rất lớn: Iran theo phái Shiite, còn Ả Rập Saudi theo phái Sunni.
GS Crane Brinton của Đại học Harvard đã viết về sự phân hóa của Hồi giáo sau khi Nhà Tiên tri Muhammad từ trần: “Sau khi Muhammad từ trần, đã có sự bất đồng sâu sắc về việc kế vị ông. Cuối cùng, Abu Bekr, người bạn lớn tuổi nhất của ông, được chọn làm khalifa (caliph: người đại diện cho Muhammad). Abu Bekr từ trần năm 634 và hai vị caliph tiếp theo đều được chọn bên ngoài gia đình của Muhammad và điều này đã khiến cho nhiều người Hồi giáo thất vọng. Năm 656, vị caliph thứ ba bị ám sát và từ đó, những người ủng hộ việc chọn lựa một thành viên của gia đình Muhammad làm caliph đã tập hợp chung quanh Ali, con rể của Muhammad. Phái này theo quan điểm chính thống, chống lại những lời bình giải hay những tác phẩm luận giải về kinh Qurʾān, thường được gọi là phái Shiite.
Phái đối đầu với Shiite là phái Sunni ủng hộ việc chọn lựa bất cứ người nào có tài năng làm caliph, bất kể có thuộc gia đình của Muhammad hay không. Phái Sunni cũng chấp nhận những luận giải bổ sung cho kinh Qurʾān.
Năm 656, Ali được chọn làm caliph và cuộc nội chiến đã bùng phát. Ali bị ám sát năm 661 và Muawiya, đối thủ của ông thuộc gia đình Umayyaad, đã tự phong làm caliph vào năm 660 tại Damascus. Triều đại các caliph thuộc dòng họ Umayyad (660-750) đã bắt đầu từ đó…” (A history of civilization, Crane Brinton, John B. Christopher, Robert Lee Wolf, tr. 247).
Sufi, hay còn gọi là phái thần bí của Hồi giáo, là tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của những người Hồi giáo muốn có được tình yêu và chân lý của Đức Allah qua sự tiếp xúc trực tiếp với ngài. Chủ nghĩa thần bí của Hồi giáo được gọi là “taṣawwuf” trong tiếng Ả Rập có nghĩa là “mặc trang phục bằng len”, nhưng lại được gọi là Sufi ở các nước phương Tây từ đầu thế kỷ XIX. Từ Sufi có nguồn gốc từ “ṣūfī” vốn bắt nguồn từ “ṣūf” có nghĩa là “len”, có lẽ để chỉ trang phục bằng len của những người Hồi giáo khổ hạnh.
Người Sufi thường được gọi là “fuqarā” (số nhiều của từ faqīr), có nghĩa là “những người nghèo khó”, trong tiếng Ba Tư là darvīsh, từ đó tiếng Anh có từ fakir và dervish. Phái Sufi hình thành vào buổi đầu từ những người Hồi giáo khổ hạnh muốn chống lại tính chất thế tục của cộng đồng Hồi giáo càng ngày càng lớn mạnh. Những người theo phái Sufi tuân thủ nghiêm ngặt những giới luật của Hồi giáo và có vai trò quan trọng trong công cuộc truyền bá Hồi giáo trên thế giới vẫn còn tiếp tục cho đến nay.
Chủ nghĩa thần bí này của Hồi giáo đã phát triển qua 3 giai đoạn:
1. Sự hình thành của chủ nghĩa khổ hạnh sơ khai.
2. Sự phát triển của quan niệm thần bí về tình yêu của Đức Allah.
3. Sự phát triển của những cộng đồng theo chủ nghĩa thần bí.
Giai đoạn thứ nhất của phái Sufi là một phản ứng chống lại tính chất thế tục của người Hồi giáo dưới triều đại Umayyad (661–749): những người Sufi khổ hạnh suy ngẫm về những lời dạy trong kinh Koran và khóc lóc khi nghĩ tới Ngày tận thế nên còn được gọi là “những người hay khóc lóc” coi trần gian này chỉ là một nơi chốn có nhiều khổ đau. Người khởi xướng quan điểm tôn giáo này là Rābiʿah al-ʿAdawīyah (mất năm 801), một phụ nữ đến từ Basra đưa ra lý tưởng một tình yêu dành cho Đức Allah không có hy vọng vào được thiên đàng và cũng không có nỗi sợ hãi phải xuống địa ngục.
Nhà nghiên cứu Antony Wild cho biết các khám phá khảo cổ học đã cho thấy những người theo phái thần bí Sufi đã bắt đầu uống cà phê từ thế kỷ XV và những người uống cà phê như chúng ta ngày nay thật sự là những “truyền nhân” của phái Sufi của Hồi giáo: “Người Sufi, một nhánh thần bí của Hồi giáo, đã nổi lên vào thế kỷ thứ 2 sau khi Hồi giáo được thành lập (vào đầu thế kỷ VII) đã bị ảnh hưởng bởi thuật giả kim.
Có ghi chép viết rằng: “Tổ sư Sufi vận hành thứ kim loại cơ bản của linh hồn môn đệ và với sự trợ giúp của các phương pháp tâm linh của người Sufi, đã biến thứ kim loại này thành vàng”. Từ “sufi” trong tiếng Ả Rập có nghĩa là “len”, phản ảnh sự đơn giản trong trang phục của họ. Mặc dù phái thần bí này xuất hiện như một phản ứng trước sự trần tục của Hồi giáo thời kỳ đầu, các thành viên không cho rằng người theo Hồi giáo cần phải tránh xa xã hội loài người. Các dòng của phái Sufi không giống như các dòng tu khép kín của Thiên Chúa giáo; những người theo phái Sufi vẫn làm việc và vui sống bên gia đình nên hầu hết những buổi cầu nguyện và nghi lễ của họ bắt đầu vào ban đêm. Đặc trưng chung của những buổi lễ của người Sufi là cùng nhau hát thơ, ngợi ca nhiều lần một cái tên thánh, tôn thờ các vị thánh, trong đó có nhiều vị là những shaykhs, tức là những thủ lĩnh của phái Sufi, và những buổi viếng thăm mộ của những vị thánh. Niềm tin vào các shaykhs lan rộng cho đến thế kỷ XII, ảnh hưởng của phái Sufi đã lan đến Yemen. Tại Yemen, vào cuối thế kỷ XV, những người theo phái Sufi dường như là những người đầu tiên uống cà phê. Cà phê không chỉ giúp các tín đồ tỉnh táo trong các nghi lễ ban đêm, mà sự biến đổi của hạt cà phê trong quá trình rang cũng phản ảnh những niềm tin của nhà giả kim vào sự biến đổi của linh hồn con người vốn là trọng tâm của phái Sufi. Cà phê có tác động cả ở cấp độ tinh thần lẫn thể chất…
Các cuộc khai quật ở Zabid đã cho thấy rằng ban đầu (chính xác là vào năm 1450), cà phê gần như được phục vụ trong cộng đồng người Sufi tại các buổi dhikr (buổi cầu nguyện công cộng thường vào ban đêm) của họ. Họ dùng muôi múc ra từ một cái chén được tráng men gọi là majdur. Sau đó, những chiếc chén nhỏ bắt đầu được sản xuất tại Haysi, một thị trấn gần đó. Những chiếc chén này có lẽ đã được chuyền từ người này sang người khác, thay thế những chiếc muôi. Một số phái Sufi ngày nay vẫn còn chuyền tay chén cà phê trong những những sự kiện đặc biệt quan trọng…” (Coffee, a dark history – chương 2 – Origins và chương 3 – Enter the dragon).
HUỲNH DUY LỘC