Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.
Cách đây hàng trăm năm, đó là những món không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Ngày nay, cây nêu đã hầu như thuộc về quá khứ, có còn chăng chỉ là một hình ảnh đơn sơ để nhắc lại một phong tục đã tồn tại hàng trăm năm trong lịch sử dân tộc.
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes là một trong những người đầu tiên đề cập đến cây nêu trong ngày Tết cổ truyền của người Việt vào nửa đầu thế kỷ XVII, trong tác phẩm “Histoire du royaume de Tunquin” (Lịch sử vương quốc xứ Đàng Ngoài) in tại Lyon (Pháp) năm 1651. Trong tác phẩm này, ông đã viết về phong tục Tết của người Việt như sau: “cuối năm họ có thói dựng gần cửa nhà một cột dài vượt quá mái nhà, trên ngọn treo một cái giỏ hay một túi đục thủng nhiều lỗ và đựng đầy thứ tiền bằng giấy vàng giấy bạc” (bản dịch của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên – NXB Khoa học xã hội – 2016, trang 115).
Đoạn văn ngắn trên của de Rhodes cho thấy hình ảnh đơn giản của một cây nêu trong ngày Tết xưa. Nó còn chỉ rõ tục sử dụng giấy tiền vàng bạc đã xuất hiện từ thế kỷ XVII hay trước đó. Vị giáo sĩ này còn giải thích thêm rằng loại tiền giấy đặc biệt ấy được gửi cho các bậc cha mẹ đã quá cố tiêu xài hay trả nợ ở cõi âm.
Sang đến nửa đầu thế kỷ XIX, trong tác phẩm Gia Định Thành Thông Chí, thượng thư Trịnh Hoài Đức dưới hai triều Gia Long và Minh Mạng đã có sự miêu tả rõ nét hơn về cây nêu ngày Tết. Theo ông, vào ngày cuối năm âm lịch, mọi người dựng trước của nhà một cây tre, trên buộc một cái giỏ bằng tre, bên trong đựng trầu cau, vôi, bên hông giỏ treo thêm giấy vàng bạc (sách đã dẫn, Phong tục chí – Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa Sài Gòn -1972). Mục đích của việc trồng cây nêu là để xua đuổi tà ma, bỏ cũ rước mới. Sau những ngày đầu năm, vào mùng bảy tháng giêng, cùng với việc khai ấn ở các công đường, mọi người cũng làm lễ hạ nêu.
Thời vua Minh Mạng, năm 1835, nhà vua “hỏi thị thần rằng: ‘Lễ dựng cây nêu trong buổi trừ tịch là ra từ kinh điển nào?’, Nội các Hà Quyền thưa rằng: ‘Người xưa cũng có dùng [cây nêu làm đề tài] làm thơ. Thần chỉ nghe tương truyền là ra từ kinh nhà Phật, nhưng cũng chưa rõ ý nghĩa vì sao’. Vua nói: ‘Người xưa đặt ra lễ này cũng là lấy nghĩa rằng nêu là tiêu biểu cho năm mới. Thế thì lễ là do nghĩa mà sinh ra đó thôi’” (Đại Nam thực lục – tập 4 – NXB Giáo dục – 2007, trang 482).
Đến đời vua Tự Đức, năm 1876, nhà vua “chuẩn định lệ dựng nêu, hạ nêu. (Lệ trước: ngày 30 Tết trồng nêu, mồng 7 tháng giêng năm sau hạ nêu, đều cho Khâm thiên giám chọn giờ lành. Sau chuẩn cho đều lấy giờ Thìn làm nhất định)” (Đại Nam thực lục – tập 8 – NXB Giáo dục – 2007, trang 216).
Cho đến gần cuối thế kỷ XIX, căn cứ vào các sử liệu chính thống, chi tiết về cây nêu, cách sử dụng và ý nghĩa rõ ràng của nó vẫn chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu của mọi người. Phải chờ đến đầu thế kỷ XX, từ bài viết của một tác giả Pháp tên A. Raquez đăng trong tạp chí Revue Indochinoise (Tạp chí Đông Dương) số phát hành năm 1904, người đọc mới có được một hiểu biết tương đối đầy đủ về cây nêu ngày Tết.
Theo A. Raquez, vào ngày 30 Tết (hay 29 Tết tùy năm), người dân trồng trước ngôi nhà của họ một cây tre cao đã được róc hết cành nhánh, chỉ chừa lại một nhúm lá tre ở đầu cây. Nhúm lá này thường xuyên bay phơ phất trong ngọn gió mùa Đông. Tác dụng chính của cây nêu là khu trừ ma quỷ, ngăn chặn mọi hành vi phá hại của chúng.
Trong trường hợp không tìm được tre để làm cây nêu, người dân sử dụng một cây cọc có treo một cây chổi dốc ngược đầu lên trên. Chòm lá trên đỉnh cây nêu là bộ phận tối cần thiết, vì sự kết hợp của nó với ngọn gió Đông giúp mọi người tiên đoán được những điều tốt xấu, may rủi sẽ xảy đến trong năm mới.
Theo tin tưởng của người dân cách đây hàng trăm năm, khi chòm lá trên ngọn nêu bay phơ phất trong gió đông, mùa màng năm sau sẽ tương đối khá; trong trường hợp chúng nghiêng hẳn về hướng Tây Bắc, mùa màng sẽ bội thu. Điều này được chính một tác phẩm cổ của nhà Hán (Trung Quốc) xác định. Trái lại, khi gió thổi chùm lá tre trên ngọn cây nêu nghiêng về hướng Nam thì năm mới sẽ bị hạn hán toàn diện, còn về hướng Tây Nam thì hạn hán sẽ diễn ra từng phần. Khi chùm lá nghiêng hẳn về hướng chính Tây, sự dự báo còn ghê gớm hơn, đó là chiến tranh, về hướng chính Đông là mưa thuận gió hòa, còn về hướng Đông Nam thì sẽ có một dịch bệnh xuất hiện.
Như vậy, theo những gì mà A. Raquez tìm biết được, cây nêu trong ngày Tết xưa là cỗ máy dự báo tình hình của năm mới trên nhiều khía cạnh của đời sống. Không những thế, đây còn là phương tiện trừ diệt tà ma, báo trước những điều xấu xa, xúi quẩy trong năm mới. Để làm điều này, người ta treo lên cây nêu nhiều thứ khác nhau: một cái giỏ đựng cơm gạo, đồ cúng các thần linh; các thoi vàng bạc bằng giấy để thỏa mãn ham muốn giàu sang của các vị này; trầu cau, vôi để họ nhai đỡ buồn … Họ cũng gắn lên cây nêu những bụi lá dứa (thơm), những nhánh cây xương rồng có nhiều gai như biểu tượng ngăn chặn sự xâm nhập của các loài ma quỷ. Để tăng cường hiệu quả của sự ngăn chặn đó, họ còn rải vôi sống quanh nhà thành một vòng tròn để ma quỷ không bước qua được vòng tròn để vào nhà.
Ở nhiều nhà, chủ nhân còn kỹ lưỡng hơn, ngoài chiếc giỏ đựng những thứ lỉnh kỉnh kể trên, họ còn mắc thêm một tấm lưới mắt cáo đan bằng tre, hình chữ nhật, có 4 thanh ngang và 5 thanh dọc. Sau một thời gian dài tìm hiểu ý nghĩa của tấm lưới mà không đạt kết quả, cuối cùng A. Raquez gặp được ông Hiệu trưởng trường Quốc học Huế là Nordemann và được ông này giải thích là 4 thanh tre ngang là tượng trưng cho 4 phương Đông Tây Nam Bắc, còn 5 thanh tre dọc tượng trưng cho 5 yếu tố vật chất căn bản của trời đất là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ!
Theo tín ngưỡng dân gian ngày xưa, cây nêu được duy trì trước mỗi nhà trong 7 ngày. Đó là khoảng thời gian các thần linh trấn giữ đất đai đi đến thiên đình để đạo đạt nguyện vọng lên chư Phật. Đó cũng là thời gian những hồn phách kẻ xấu lợi dụng để phá phách người trần và pháo nổ góp phần làm cho chúng sợ mà bỏ đi.
Ngày nay, vào những dịp tết, họa hoằn lắm ta mới thấy vài nhà ở vùng quê hay đình chùa miếu mạo còn duy trì tục thượng nêu đón tết, song sự hiện diện của chúng cũng chỉ là những biểu tượng nhắc nhở chúng ta về một quá khứ đã xa vời…
Lê Nguyễn
20.2.2026
(Giai phẩm Tuổi Trẻ xuân Bính Ngọ 2026 phát hành ngày 29.1.2026)