Ngày nay ở miền Nam, những cụ già có tuổi nhưng vẫn theo lớp trẻ đến cùng được xem là “chịu chơi” và được gọi là “Ông già Ba Tri”. Thực ra trong quá khứ, câu thành ngữ này dùng để chỉ người có tuổi nhưng vẫn theo đuổi đến cùng để đạt được công lý, không bỏ cuộc giữa chừng. Thành ngữ “Ông già Ba Tri” xuất phát từ một câu chuyện có thật thời vua Minh Mạng.
Vậy ông già Ba Tri có thật hay không? Nếu có thật thì ông ấy là ai mà dám đi bộ hơn 1000 cây số để gặp vua lấy lại công bằng.
Theo lời kể của người dân Bến Tre, “Ông già Ba Tri” có tên thật là Thái Hữu Kiểm ở làng An Bình Đông (nay thuộc thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Theo tài liệu thì dòng họ Thái Hữu thì có ông Thái Hữu Xưa cùng đoàn người xuôi thuyền vào nam, đến Ngao Châu (Ba Tri ngày nay) từ năm 1742.
Ông Thái Hữu Xưa có công khai phá đất hoang, lập làng An Bình Đông. Năm 1787, khi chúa Nguyễn Phúc Ánh chạy trốn quân Tây Sơn có ghé qua nơi đây và được dân làng giúp đỡ rất nhiều. Cháu nội của Thái Hữu Xưa là Thái Hữu Kiểm khi ấy còn nhỏ, nghe lời cha, tận tình hàng ngày đưa cơm nước đến cho Chúa, nên sau này có uy tín lớn nhất trong làng, dân làng thường gọi là ông Cả Kiểm.

Làng An Bình Đông ngày càng đông đúc dân cư, ruộng đồng mở rộng, dân chúng có nhu cầu mua bán trao đổi hàng hóa. Năm 1806, ông Kiểm lập chợ An Bình Đông, dân chúng quen gọi là Chợ Trong để phân biệt với Chợ Ngoài ở làng An Hòa Tây. Sau khi lập chợ, ông Kiểm lại kêu gọi dân chúng đắp hai con đường để đi lại thuận lợi.
Từ đó dân các nơi đến chợ ngày càng đông, thuyền ghe cũng tấp nập ghé đến. Chỉ trong một thời gian ngắn mà Chợ Trong trở thành nơi mua bán phồn thịnh, sầm uất.
Ngay khi vừa dựng chợ, hoạt động được một thời gian thì ông Xã Hạc, chủ của một khu chợ Ngoài, vì tức dân vô chợ Trong, không ra chợ Ngoài nên ông cho người đắp đập khiến ghe không lưu thông từ sông Hàm Luông vào chợ Trong làm dân không làm ăn buôn bán gì được, dân lại đói.
Thấy cảnh dân bị hiếp đáp, ông Kiểm tức lên, quyết định kiện lên quan. Nhưng mà hình như quan ăn hối lộ, xem chuyện này chẳng có gì, liền xử cho ông Xã Hạc thắng kiện với lý lẽ “lệ làng” rằng đất, sông, rạch làng nào thì ở đó được quyền khai thác. Ông Xã Hạc lắp đập ở chỗ ổng thì chẳng có gì sai. “Lệ làng” không làm chủ được cho ông Kiểm thì ông nhờ “lệ Vua” đứng ra giúp ông. Nói là làm, ông lên kinh đô gặp vua để kiện. Ông cùng với hai người nữa tên là Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi để đi bộ từ Ba Tri ra Huế, khoảng cách đường đi khoảng hơn 1000 cây số, đó là chưa kể đường miền Tây khi đó sông rạch chằng chịt, đi ra miền Trung còn đèo núi gập ghềnh, nói chung là chuyến đi vô cùng gian nan vất vả. Vậy mà ông với hai người kia cũng khăn gói lên đường.
Khi đó vua Gia Long vừa băng hà, vua Minh Mạng lên ngôi hoàng đế. Ông Kiểm tới kinh thành thì thấy trống Đăng Văn liền đánh trống kêu oan. Trống Đăng Văn đặt giữa sân, dành cho ai có oan khuất thì đến đập trống sẽ có người ra xử án. Tiếng của nó vang vọng khắp nơi, xa đến 10 dặm. Để phân biệt giữa tiếng trống kêu oan và tiếng trống của Đại nội, nhiều vua Nguyễn cấm không cho người trong Đại nội đánh trống bậy bạ, chủ yếu chỉ để nghe tiếng trống oan của dân.
Vua Minh Mạng cho gọi cả 3 cụ vào để hỏi rõ chuyện, rồi tuyên rằng: “Dù làng riêng nhưng rạch chung, phủ, huyện phải cho phá đập”, rồi lệnh cho các quan địa phương phải cho phá ngay những con đập ngăn kênh rạch này. Rồi Vua thưởng cho 3 ông cụ một số tiền lộ phí để trở về.
Từ đó Chợ Trong còn có tên gọi là Chợ Đập lại đông đúc tấp nập như xưa. Dân chúng cũng khâm phục nghị lực và quyết tâm của cụ Cả Kiểm, sau đấy gọi ông là “Ông già Ba Tri”.
Cụ Cả Kiểm có người vợ làm nghề dệt lụa, làm nên thương hiệu “lụa Ba Tri” nổi tiếng một thời
Sau này “Ông già Ba Tri” trở thành một thành ngữ, ý chỉ người cao tuổi có ý chí nghị lực phi thường, vì chân lý mà không bỏ cuộc giữa chừng, quyết làm bằng được.
Ba Tri cũng là vùng đất “địa linh nhân kiệt” ở Nam bộ, nơi sản sinh ra nhiều bậc danh sĩ như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản, v.v…
Hiện nay đến chợ Ba Tri, hỏi nhà thờ của ông già Ba Tri người dân buôn bán trong chợ ai cũng biết, hằng năm, đám giỗ của ông già Ba Tri và các cụ tổ trong dòng tộc Thái Hữu đều được hậu duệ tổ chức.