Phạm Công Thiện và “Ngày sanh của rắn”

Huỳnh Duy Lộc

0 78

Phạm Công Thiện sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941 tại Mỹ Tho, tỉnh Định Tường, trong một gia đình có 9 anh chị em (6 trai và 3 gái). Gia đình ông sùng mộ Thiên Chúa giáo, nhưng sau khi theo đạo Phật, ông đã cảm hóa song thân và anh chị em trong gia đình theo đạo Phật. Ông là một thiên tài ngôn ngữ học, thông thạo nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Phạn, La tinh, Tây Tạng…

Năm 1963, ông đã ra Phật học viện Hải Đức tại Nha Trang, xin quy y với Hòa thượng Thích Trí Thủ, Giám viện Hải Đức lúc bấy giờ. Ông được Hòa thượng Thích Trí Thủ ban cho pháp danh Nguyên Tánh và trong thời gian này, ông chuyên tâm nghiên cứu Phật học và viết cuốn sách đầu tiên về Phật giáo có nhan đề “Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma” khi mới 22 tuổi.

Năm 1966, Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh tại Sài gòn, mời ông về dạy và giúp phát triển hệ thống giáo dục đại học đầu tiên của Phật giáo Việt Nam là Viện Đại học Vạn Hạnh. Về Viện Đại học Vạn Hạnh, ông đảm nhiệm chức vụ Giám đốc soạn thảo chương trình giảng dạy cho tất cả các phân khoa từ năm 1966 tới năm 1970. Ông còn đảm nhận chức khoa trưởng Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của Đại học Vạn Hạnh. Ông cũng là một trong những người chủ trương và sáng lập tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh.

Năm 1970, ông rời Việt Nam và sống ở nước ngoài. Ông đã tự kể về cuộc đời khác thường của mình: “Sinh vào năm Rắn bên dòng sông Cửu Long. Vì tranh luận học thuật với giáo sư nên bỏ học trường lúc 13 tuổi, làm giáo sư sinh ngữ Ban tú tài từ lúc 16 tuổi đến 20 tuổi tại những trường ở Sài gòn, Mỹ Tho, Đà Lạt, Nha Trang. Quyển sách khảo luận đầu tiên được xuất bản vào lúc 16 tuổi; viết quyển “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” vào lúc 20 tuổi; học triết lý tại Trường Đại học Yale; đệ trình tiểu luận “Ý niệm về chân lý trong tư tưởng Platon và Heigegger” tại Hội thảo triết lý ở Yale; tiếp tục học triết lý tại Trường Đại học Columbia, khinh bỉ giáo sư và bỏ học bổng của Viện Giáo dục quốc tế, bị viện mời đi gặp bác sĩ phân tâm học, được mời khéo vào nhà thương điên, lại tranh luận với bác sĩ phân tâm học về giá trị và giới hạn của phân tâm học hiện đại; chỉ trích đời sống nông cạn của nước Mỹ, sống lang thang lây lất ở xóm nghệ sĩ Greenwich Village tại New York; đã gặp Henry Miller, văn hào bậc nhất của Mỹ, tại Pacific Palissades ở California; sau đó được một văn sĩ Do Thái cho tiền để trốn qua Paris không giấy tờ, không hành lý, sống bơ phờ ở vùng Bretagne; học văn chương tại Trường Đại học Rennes, khinh bỉ giáo sư, rồi lại bỏ đi và sống lang thang lây lất khắp hang cùng ngõ hẻm ở Paris, làm clochard đi ăn mày, ngủ dưới cầu, ngủ trên vỉa hè, đói lạnh và bỏ làm luận án tiến sĩ tại Pháp, được Henry Miller gởi tiền nuôi sống và được Henry Miller cho tiền lìa bỏ Paris để sống lang thang giang hồ tại Thụy Sĩ, Ý, Iran, Hy Lạp, Thái Lan… Lúc ở Paris thì nhập bọn với nhóm nghệ sĩ trẻ ở Popoff, la cà vất vưởng ở xóm Saint Séverin và Saint Germain des Prés, đã gặp Krishnamurti 2 lần tại Square Rapp…”

Tập thơ “Ngày sanh của rắn” của Phạm Công Thiện gồm 12 bài thơ được in lần đầu tiên vào năm 1966 tại Paris, được nhà xuất bản An Tiêm tái bản ở Sài gòn cuối năm 1966, trang bìa do họa sĩ Vĩnh Ấn vẽ trên tả ngạn sông Seine ở Paris.
Bài thơ số VIII thể hiện nỗi nhớ nhung của một người đang lần bước qua những ngọn đồi lộng gió ở Đà Lạt được nhiều người yêu thích vì đã được nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ nhạc thành ca khúc “Tôi đứng trên đồi mây trổ bông”.

Bài thơ số VIII

Mười năm qua gió thổi đồi Tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về ru giấc ngủ
Bông trời bay trắng cả rừng cây

Gió thổi đồi Tây hay đồi Đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông

Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
Một sớm bông hồng nở cửa Đông.

(Tập thơ “Ngày sanh của rắn”)

Nhà văn Võ Phiến đã đọc đi đọc lại bài thơ này và cho biết ông “thấy ý nghĩa mơ hồ nhưng cảm xúc gây ra thì rõ rệt và cố định. Niềm đau xót không tên trong tiếng gà xơ xác, cái hơi gió long đong từ đồi Tây qua đồi Đông, từ đồi thu qua đồi thông lảng vảng trong những vần điệu hình ảnh nọ, mỗi lần đọc mỗi thấy lảng vảng (…) Tò mò muốn biết rõ hơn, một hôm tôi hỏi thẳng tác giả. Phạm Công Thiện kể: Vào khoảng năm 1964, một đêm lúc gần sáng, ông không còn ngủ nữa nhưng cũng chưa thức hẳn, chợt nghe bên tai văng vẳng có tiếng nhạc và lời thơ ông cố nhớ, khi tỉnh liền cầm bút chép bài thơ. Có cái gì huyền bí, có bàn tay thần linh trong đó chăng? Có những gì khác, cái đó khó xác quyết; nhưng chắc chắn là phải có Phạm Công Thiện. Có cái ám ảnh của thời đại mà ông đang sống, có những sáo ngữ thời thượng thuộc thế hệ ông, và tại sao có thể không nghĩ đến cái phần tâm tư sâu kín nhất của riêng ông ẩn náu tận nơi tiềm thức thăm thẳm? Tiếng nhạc, lời thơ văng vẳng hôm ấy, nó vừa là của ông, vừa lạ lùng đối với ông; nó thuộc về cái phần ở ngoài vòng kiểm soát của ông. Cảm xúc đến từ chỗ sâu thẳm lại là cảm xúc rất thực, có sức ám ảnh lâu dài”.

HUỲNH DUY LỘC

Ca khúc “Tôi đứng trên đồi mây trổ bông” với giọng ca Lê Uyên Phương: https://youtu.be/JbbM0aKRDmc

Ảnh: Phạm Công Thiện với nhà văn Thế Phong và họa sĩ Đinh Cường năm 1963 ở Đà Lạt, tập thơ “Ngày sanh của rắn”.

Leave A Reply

Your email address will not be published.