I. MAI THẢO, MỘT NGƯỜI CÔ ĐƠN TIÊU BIỂU
Mai Thảo, một nhân vật văn học mang đậm dấu ấn “một thời vang bóng”, tên thật là Nguyễn Đăng Quý, sinh năm 1927 tại Chợ Cồn, Hải Hậu, Nam Định, trong một gia đình phú hào, di cư vào Nam năm 1954. Sau năm 1975, ông định cư tại Hoa Kỳ, và mất tại California năm 1998, thọ bảy mươi mốt tuổi. Ông là nhà văn, nhà thơ, nhà báo và là người cầm chịch tên tuổi trong giới làm văn nghệ, cả trước 1975 tại Sài Gòn và sau 1975 tại hải ngoại.
Ông là một trong những người sáng lập tạp chí Sáng Tạo năm 1956, định hình nên một trào lưu văn học nghệ thuật mới, hiện đại, nổi bật ở miền Nam Việt Nam. Tại Mỹ, ông chủ trương tục bản tạp chí Văn, trở thành người giữ lửa văn học tại hải ngoại trong suốt mười bốn năm.
Không chỉ thế, Mai Thảo còn là một người cô đơn tiêu biểu. Ông tồn tại lặng lẽ, âm thầm, không dấu vết, như vô hình giữa cuộc đời:
Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy.
(Không Tiếng)
Cuộc đời Mai Thảo là trường thiên vũ khúc của sự cô đơn, độc hành, một mình, phòng trà, vũ trường, quán bar, văn chương, bạn bè, và, rượu. Cứ thế, ông tận hiến mình cho văn chương trong suốt năm mươi năm của cuộc đời:
Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
Tiếng người: kia, uống cái chi đây?
Uống ư? Một ngụm chiều rơi lệ
Và một bình đêm rót rất đầy.
(Một Mình)
Thiệt ra, không chỉ Mai Thảo, hay bất kỳ một thiên tài thi ca, văn chương, nhạc họa nào, mới cảm ra rằng mình cô đơn. Sự cô đơn là món quà miễn phí từ thượng đế, được phân phối đến đều khắp cho tha nhân. Nhưng dù sao thì, với những tâm hồn nhạy cảm, đầy chất thơ, đầy sự bay bổng và lãng mạn, nỗi cô đơn cũng vẫn thích vào khu trú, rồi tấn công, và chiếm lãnh thổ nhiều hơn. Chúng thường trực, gặm nhấm triền miên, từ buổi sinh ra cho đến lúc chết đi, vì chất nghệ sĩ có trong người ta, vốn là thứ thức ăn ngon miệng nhứt của chúng:
Nửa đêm đợi bạn từ xa tới
Cửa mở cầu thang để sáng đèn
Bạn tới lúc nào không biết nữa
Mưa thả đều trong giấc ngủ đen.
(Đợi Bạn)
******
II. KHÔNG CHỈ CON NGƯỜI, MÀ TRƯỜNG HỌC CŨNG DI CƯ VÀO NAM
Mai Thảo học Chu Văn An – Hà Nội. Có lẽ chuyện này, cũng nên nói thêm một chút, trước là cho vui, sau là để các em tuổi nhỏ hơn, có thể hiểu thêm một vài điều trước đây, thuộc thế hệ cha anh, cũng không gì là vô ích, phí uổng. Trường Chu Văn An cũng “di cư” từ ngoài Bắc vào miền Nam năm 1954. Đến năm 1978 thì bị xóa bỏ hoàn toàn.
Trường nữ Trưng Vương, cũng là trường “di cư”. Trường Trưng Vương và trường Chu Văn An, như một cặp bài trùng, gắn kết, tạo nên một cặp đôi văn hóa đặc trưng thời trước năm 1975.
Các bạn có biết bài hát Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, nhẹ nhàng, thơ mộng, lãng mạn và tình tứ do nhạc sĩ Nam Lộc viết lời Việt từ ca khúc gốc Tell Laura I Love Her, không? Đó đó, Trưng Vương này, chính là nói đến trường Nữ Trung Học Trưng Vương Sài Gòn khi xưa đó.
Còn “một cặp” trường “con nhà” nữa, đó là trường Nam Trung Học Petrus Ký, tức trường Lê Hồng Phong bây giờ và trường Nữ Trung Học Gia Long, nay đã đổi tên thành Nguyễn Thị Minh Khai.
Danh giá lắm, nổi tiếng lắm, bốn trường trên. Mười tuổi, học xong lớp Nhứt, là cha mẹ, là con cái, vắt giò lên cổ, học thêm học bớt, thức đêm thức hôm, sĩ tử dùi mài kinh sử, chờ ngày ứng thí, chính là đây.
Cũng lại nói thêm chỗ này, từ hồi xửa hồi xưa, từ cái thời xa lắc xa lơ, người ta đã có dạy thêm rồi. Học phí cao, nhưng không phải là cao quá mức. Những gia đình không khá giả, khi cần thiết, cố gắng, chắt bóp, cũng vẫn có thể cho con học thêm được, chớ không đến nỗi. Không học thêm, sao chen chân vô được lớp Đệ Thất trường công? Mà không vào được Đệ Thất, thì làm sao học được hết trung học, sao hy vọng đổi đời được?
Thời xưa, chỉ có học mới thoát kiếp nghèo được thôi. Nên người ta quý trọng sự học. Nên người ta rất kính trọng những người có học thức.
Cha mẹ thì đa phần là các ông các bà ít chữ, thời xưa, đầu thế kỷ XX, mấy ai được ăn học đến nơi đến chốn? Con là con đầu, lấy ra anh chị nào để kèm cặp em? Thì phải đi học thêm thôi. Xưa, thi là thi tuyển. Trường lấy năm mươi em chẳng hạn, mà số thí sinh nộp đơn xin thi vào lên đến một ngàn, là nó chặt phăng chín trăm năm mươi đứa thấp điểm, phải xuất sắc lắm mới đậu. Đứa nào bị rớt, là từ cha mẹ đến chúng, khóc ròng ròng luôn. Ra trường tư, tiền đâu mà chịu cho nổi?
Nhà nào, ít nhứt, cũng ba, bốn đứa con. Nhà đông thì chín, mười đứa con. Học trường tư, sao chịu nổi? Mà ở miền Nam trước 1975, trường tư không tốt bằng trường công. Con cái học trường công vẫn oai hơn, và yên tâm hơn.
Giải thích thêm, trung học hồi xưa là học liền tù tì, từ lớp sáu lên đến lớp mười hai, chớ không chia ra cơ sở, phổ thông, cấp hai, cấp ba bát nháo, loạn xà ngầu, như bây giờ đâu. Thi một lần, năm vào đầu cấp, tức lớp Đệ Thất, học một lèo lên lớp Đệ Nhị, thi Tú Tài Một, học xong lớp Đệ Nhứt, lấy Tú Tài Hai.
Có Tú Tài Một thôi, tức học xong lớp Đệ Nhị, ngang với lớp mười một bây giờ, cũng đủ xài rồi. Đi xin việc, nhiều nơi họ chấp nhận bằng Tú Tài Một này.
Ngày xưa, người ta học chất lượng lắm, không có như bây giờ. Lấy xong Tú Tài, là có thể đi làm. Ngoại ngữ của họ đủ để nói chuyện với người nước ngoài, hiểu biết về khoa học và văn chương của họ, rộng và sâu.
Bây giờ, học xong lớp mười hai, viết một bản tường trình hay viết một lá đơn xin học, xin việc làm, hay một lá thư tay, bằng tiếng Việt thôi, là cũng đủ cho các anh chị ngồi thừ ra nửa ngày, mà vẫn không sao viết được phần mở đầu. Chỉ còn cách là nhờ cậy hết vào người máy google. Chớ còn gì nữa.
Các bạn có khi nào nghe câu cải lương: Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ / Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con không? Tú Tài là học lực của tuổi mười bảy, mười tám thời ấy đấy.
Mấy chuyện trường nhứt nhì này, cũng thăng giáng, cũng nhiều đảo lộn ngoạn mục lắm. Cho tôi khoe chút, như trường tôi từng học, xưa lắc xưa lơ có tên Tân Bình, thời tụi tôi học, đã đổi thành Nguyễn Thượng Hiền (mà tụi tui hay nói lén là Ngu Thượng Hạng), nằm khỉ ho cò gáy tuốt miệt Bảy Hiền, không sang như mấy trường tôi vừa kể ở trên đâu. Vậy mà có những năm, trường tôi lấy điểm cao nhứt Sài Gòn. Đậu vào đây là hãnh diện lắm luôn. Trường tôi, cũng nằm trong vành đai thuộc về Dân Ông Tạ, mà nhà văn Cù Mai Công đã ra một bộ sách khủng về xứ này. Trang fb của tôi, cũng có nhiều người học ở đó ra, như ca sĩ Nhật Hạ, như nhà văn Cù Mai Công, nhà văn Phạm Công Luận. Còn bạn nào xuất thân từ đây ra không, xin vào góp mặt, nhận bà con luôn cho dzui.
Chèn ơi, là tôi đang ở chốn nào rồi, tôi hôm nay đang viết về nhân vật văn chương lẫy lừng Mai Thảo mà. Thiệt là.
******
III. MAI THẢO VÀ TẬP THƠ TA THẤY HÌNH TA NHỮNG MIẾU ĐỀN
Từ năm mười sáu, mười bảy tuổi, Mai Thảo đã làm thơ. Di cư vào Nam, chẳng hiểu sao, ông bỏ hẳn thơ, chỉ tập trung viết văn xuôi. Cả cuộc đời ông, chỉ xuất bản duy nhứt một tập thơ mang tên Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền tại Cali năm 1989.
Khoảng năm mươi tác phẩm văn xuôi của Mai Thảo đã được in thành sách, xuất bản cũng như đăng trên báo, với đủ thể loại, truyện dài, đoản thiên, hồi ức, nhận định và cả kịch bản phim truyện nữa.
Trong Chuyện Làng Văn của mình, nhà văn Phạm Chu Sa kể: Trần Phong Giao, người tạo dựng và điều hành bán nguyệt san Văn, đã mời nhà văn rong chơi Mai Thảo về cầm chịch, làm Chủ Bút tờ Văn. Và ông Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm bán nguyệt san Văn, rất thích văn phong của Mai Thảo và Nguyễn Thị Hoàng. Sách của hai nhà văn thời thượng này là ưu tiên xuất bản của ông Vượng.
******
IV. BÀI THƠ TA THẤY HÌNH TA NHỮNG MIẾU ĐỀN
Chữ của Mai Thảo, một vương giả lưu vong, giống mặt nước lặng yên, tưởng bình an mà đáy ngầm sóng cuộn. Lời thơ của Mai Thảo, thống trầm kiếp khổ, tựa khuôn mặt ông, ai mang khắc vào đó những vạn cổ sầu, những điệp trùng quan san, những muôn ngàn thiên lý.
TA THẤY HÌNH TA NHỮNG MIẾU ĐỀN
Ta thấy tên ta những bảng đường
Đời ta, sử chép cả ngàn chương
Sao không, hạt cát sông Hằng ấy
Còn chứa trong lòng cả đại dương
Ta thấy hình ta những miếu đền
Tượng thờ nghìn bệ những công viên
Sao không, khói với hương sùng kính
Cháy được lên từ đáy thẳm khơi
Ta thấy đường ta Chúa hiện hình
Vườn ta Phật ngủ, ngõ thần linh
Sao không, tâm thức riêng bờ cõi
Địa ngục ngươi là, kẻ khác ơi
Ta thấy nơi ta trục đất ngừng
Và cùng một lúc trục trời ngưng
Sao không, hạt bụi trong lòng trục
Cũng đủ vòng quay, phải đứng dừng
Ta thấy ta đêm giữa sáng ngày
Ta ngày giữa tối thẳm đêm dài
Sao không, nhật nguyệt đều tăm tối
Tự thuở chim hồng, rét mướt bay
Ta thấy nhân gian bỗng khóc òa
Nhìn hình ta khuất, bóng ta xa
Sao không, huyết lệ trong trời đất
Là phát sinh từ huyết lệ ta
Ta thấy rèm nhung khép lại rồi
Hạ màn, thế kỷ hết trò chơi
Sao không, quay gót, tên hề đã
Chán một trò điên diễn với người
Ta thấy ta treo cổ dưới cành
Rất hiền giấc ngủ giữa rừng xanh
Sao không, sao chẳng không là vậy
Khi chẳng còn chi ở khúc quanh.
******
IV.1. SAO KHÔNG, HẠT CÁT SÔNG HẰNG ẤY
Ta thấy tên ta những bảng đường
Đời ta, sử chép cả ngàn chương
Sao không, hạt cát sông Hằng ấy
Còn chứa trong lòng cả đại dương
Đây là khổ thơ của niềm kiêu hãnh, khổ thơ của khẳng định cái tôi mạnh mẽ, vượt lên sự hữu hạn của đời người.
Với biện pháp cường điệu, cường điệu mà rất lãng mạn, ông so sánh mình nhỏ bé như hạt cát sông Hằng thôi, nhưng lại chứa đựng cả những vĩ đại, vô cùng, vô tận của đại dương. Đại dương, trí tuệ. Đại dương, khát vọng.
Vừa rất màu sắc triết lý Phật giáo, lại vừa rất chất hào sảng của nòi thi sĩ, Mai Thảo đã đặt ra một vấn đề, sao không chứ, một cuộc đời hữu hạn, vẫn có thể viết thành thiên sử thi vô tận của tâm hồn.
******
IV.2. SAO KHÔNG, KHÓI VỚI HƯƠNG SÙNG KÍNH
Ta thấy hình ta những miếu đền
Tượng thờ nghìn bệ những công viên
Sao không, khói với hương sùng kính
Cháy được lên từ đáy thẳm khơi
Đây là khổ thơ của một tâm thế cô đơn, cô độc, nhưng kiêu hãnh, không yếu đuối và sống hết mình. Bằng phép liệt kê và ẩn dụ, Mai Thảo cho rằng, chính ông là một biểu tượng bất tử, vĩnh cửu, trường tồn của người nghệ sĩ tha hương, trước sự lãng quên của cuộc đời.
******
IV.3. SAO KHÔNG, TÂM THƯỚC RIÊNG BỜ CÕI
Ta thấy đường ta Chúa hiện hình
Vườn ta Phật ngủ, ngõ thần linh
Sao không, tâm thức riêng bờ cõi
Địa ngục ngươi là, kẻ khác ơi
Không chỉ kiêu hãnh, một sự kiêu hãnh rất gần với không khuất phục, Mai Thảo còn là người đại diện cho sự tự do, tự chủ và rộng mở.
Trong tâm thức ông, Chúa, Phật và các đấng thần linh luôn hòa hợp. Ông phủ định các quy chuẩn thông thường, ông tin Chúa, ông tìm thấy sự bình yên nơi Phật, và nhận ra sự linh thiêng của các đấng thần thánh. Ông coi nhẹ thế sự, vững chãi trước những xô bồ của nhân gian, và cho rằng, tâm thức con người tự có một bờ cõi riêng, không phụ thuộc vào ngoại cảnh; cũng như cho rằng, địa ngục chỉ là những ràng buộc, trói buộc của trần gian ở phía bên ngoài, với những ai còn tâm vướng bận, chưa đạt đến tự tại, giải thoát.
Cũng như trong một ca khúc của Phạm Duy, các bạn còn nhớ không, Tuổi Mộng Mơ, trong đó có những câu như: em được là tiên nữ, được chắp cánh bay giữa trời, được mang hồn thi sĩ, được xây mộng cho đời.
Vậy thì Mai Thảo, ông cũng hoàn toàn được quyền có đức tin, tin rằng, sẽ thấy Chúa hiện hình nơi con đường mình đi, thấy Phật nằm ngủ trong khu vườn thần linh tâm thức, và địa ngục, luôn ở phía ngoài ông.
******
IV.4. SAO KHÔNG, HẠT BỤI TRONG LÒNG TRỤC
Ta thấy nơi ta trục đất ngừng
Và cùng một lúc trục trời ngưng
Sao không, hạt bụi trong lòng trục
Cũng đủ vòng quay, phải đứng dừng
Với Mai Thảo, con người chỉ là một hạt bụi nhỏ bé, nhưng hạt bụi ấy, nằm ngay tại trung tâm lòng trục, trung tâm của vòng xoay cuộc đời. Sau khi đã trải qua đủ những thăng trầm, đã quay đủ vòng quay rồi, thì việc dừng lại là đương nhiên.
Trước sự sống chết, Mai Thảo an nhiên, và luôn ở vai trò chủ động, luôn ở tâm thế của người đã thấu suốt lẽ vô thường. Đó là sự dừng để vĩnh cửu hóa mình, biến mình thành miếu đền tôn kính, thiêng liêng, ngay chính trong cõi riêng do mình thiết lập.
******
IV.5. SAO KHÔNG, NHẬT NGUYỆT ĐỀU TĂM TỐI
Ta thấy ta đêm giữa sáng ngày
Ta ngày giữa tối thẳm đêm dài
Sao không, nhật nguyệt đều tăm tối
Tự thuở chim hồng, rét mướt bay
Với Mai Thảo, kiếp người rất lạnh lẽo, kiếp người là hoang mang, kiếp người là bế tắc, kiếp người là tuyệt vọng trong một vũ trụ rộng lớn mà tăm tối.
Bằng cách dùng từ tượng trưng, bằng phương pháp nghệ thuật đối xứng và đảo ngữ, ông đã hoán đổi vị trí của không gian và thời gian, để cho ta thấy sự đơn độc, lạc loài của kiếp người, tự thuở hồng hoang cho đến mãi mãi về sau.
******
IV.6. SAO KHÔNG, HUYẾT LỆ TRONG TRỜI ĐẤT
Ta thấy nhân gian bỗng khóc òa
Nhìn hình ta khuất, bóng ta xa
Sao không, huyết lệ trong trời đất
Là phát sinh từ huyết lệ ta
Với cái tôi ngạo nghễ và làm chủ hoàn cảnh của mình, Mai Thảo cho chúng ta thấy, ông không nhìn cái chết như một sự kết thúc u ám, mà chỉ là khuất, chỉ là xa, chỉ là một sự rời đi, đi vào cõi miên viễn mà thôi.
Huyết lệ, máu và nước mắt. Máu và nước mắt là tinh túy. Máu và nước mắt là đau đớn. Tinh túy và đau đớn ấy của ông, đã tạo nên tinh túy và đau đớn cho thế gian này.
Tạo nên vẻ đẹp rất riêng cho trời đất này.
Những suy nghĩ của ông trong Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền, không chỉ thơ mà còn rất đẹp, không chỉ rất đẹp mà còn rất tình. Đó chính là tình người, tình nhân quần, tình đồng loại.
Ngày Mai Thảo rời xa cõi sống này, ông tin nhân gian sẽ khóc òa, như mất đi một người thân, như mất đi một ruột thịt. Sao không? Bởi vì máu của anh, của chị, của bạn, của em, không phải là dòng máu đang chảy trong châu thân của Mai Thảo sao? Chúng ta không phải là anh em một nhà sao?
******
IV.7. SAO KHÔNG, QUAY GÓT, TÊN HỀ ĐÃ
Ta thấy rèm nhung khép lại rồi
Hạ màn, thế kỷ hết trò chơi
Sao không, quay gót, tên hề đã
Chán một trò điên diễn với người
Nhưng thôi, Mai Thảo quyết định dừng lại. Dừng lại vì ông đã quá thấu rõ tính hư vô của cuộc đời, đã quá thấu rõ tính ảo mộng của kiếp người.
Mai Thảo quyết định buông bỏ. Buông bỏ hoàn toàn các nỗ lực, các ràng buộc, các cay đắng, buông bỏ cả những nhìn thấy của mình, nhận ra của mình.
Tất cả đều chỉ là một vở kịch dài, và nó đã đến giờ hạ màn. Tất cả chỉ là một trò chơi, và nó đã đến giờ kết thúc. Ông tự ví mình như tên hề, một tên hề diễn trò, một tên hề mua vui, một tên hề bị cuốn vào vòng xoáy cuồng điên của cuộc đời.
Tên hề ấy, là ông, đã chán rồi. Tên hề ấy, là ông, đã mệt rồi. Tên hề ấy, là ông, không muốn diễn cùng người, và cho người xem những màn giả dối nữa.
******
IV.8. SAO KHÔNG, SAO CHẲNG KHÔNG LÀ VẬY
Ta thấy ta treo cổ dưới cành
Rất hiền giấc ngủ giữa rừng xanh
Sao không, sao chẳng không là vậy
Khi chẳng còn chi ở khúc quanh.
Và Mai Thảo tự tách hồn mình ra khỏi thể xác, thấy mình treo cổ dưới cành. Không hiểu sao, khi đọc tới khổ thơ này, hình ảnh treo cổ không làm tôi thấy sợ, mà trái lại, tôi đọc nó trong sự bình thản, cũng như nhận ra, câu thơ ấy rất lãng mạn, rất thơ và rất hiền, hiền như giấc ngủ giữa rừng xanh.
Đó chính là sự giải thoát khỏi cô đơn, khỏi gánh nặng của kiếp người và tìm về để ngủ say, tìm về để yên nghỉ vĩnh hằng giữa chốn thiên nhiên an tĩnh.
Đặc biệt nhứt là hai câu thơ sau của khổ thơ đã thể hiện được chân lý sắc không của nhà Phật. Khi con người nhận ra sự vô nghĩa của tồn tại, vui buồn, được mất, “chẳng còn chi”, thì buông bỏ, “không, chẳng không là vậy”, bỗng thành một tất yếu nhẹ nhàng.
Ra đi, chia lìa, vĩnh biệt, cuối cùng với Mai Thảo, cũng dịu dàng làm sao. Không chút buồn. Không chút sầu. Không than van. Không khóc lóc.
Treo cổ là một lối nói, là một cách nói, thay cho phút từ giã. Treo cổ để không phải thốt lên lời từ tạ với những người thương. Nhắm mắt, như ngủ vậy đó mà. Đời có bao lối thẳng, bao nẻo quanh cần đi, thì Mai Thảo cũng đi đủ rồi. Hồi nhỏ, lúc ngủ, có mẹ đưa nôi. Giờ, không còn mẹ, khi ngủ, có rừng xanh che nắng.
Khổ thứ tám, khổ cuối trong bài thơ, là khổ thơ hay nhứt. Và hai câu kết thúc, với tôi, cũng chính là hai câu hay nhứt trong toàn bài thơ:
Sao không, sao chẳng không là vậy
Khi chẳng còn chi ở khúc quanh.
******
V. MAI THẢO, “TA THẤY” VÀ “SAO KHÔNG?”
Bài thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền có tám khổ thì Mai Thảo sử dụng đủ tám lần điệp “ta thấy” và “sao không”. Lặp đi lặp lại mà nghe vẫn rất dễ chịu, mà nghe vẫn rất thơ, mà nghe vẫn rất hay, các bạn có biết tại sao không?
Thì tại vì Mai Thảo là nhà thơ mà. Là nhà thơ, kiểu gì kiểu, cũng phải viết được thơ cho ra thơ chớ.
Là tôi nói đùa chút cho vui thôi. Hay, là vì cấu trúc lặp, nếu biết dùng một cách khéo léo, sẽ tạo được nhạc điệu cho thơ.
Kiếp người, nhỏ nhoi và hữu hạn, nhưng Mai Thảo, nhưng tất cả chúng ta, luôn có khát vọng để lại dấu vết của mình trong dòng trôi của thời gian và không gian, trong vô biên, vô tận.
Là dấu vết, các bạn nha. Dấu vết, giá trị thực sự của tâm hồn và sự sáng tạo. Nó khác lắm với danh vọng, tiếng tăm, tên tuổi, những ngôn từ phù phiếm, rất trống rỗng nên kêu rất to.
Why not? Sao không? Không gì là không thể, phải không các bạn. Ngay cả khi, Mai Thảo thấy mình là: Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền.
******
VI. MAI THẢO TRONG CHUYỆN LÀNG VĂN CỦA PHẠM CHU SA
Trong Chuyện Làng Văn, Phạm Chu Sa kể: Mai Thảo sống độc thân, ở Apartment, ăn cơm tiệm, đi xích lô. Thỉnh thoảng, tình cờ gặp ở quán ăn, bao giờ anh cũng giành trả tiền.
Cũng vẫn là Phạm Chu Sa kể: Mai Thảo là cây bút viết Feuilleton ăn khách, rất được các nhật báo săn đón. Mỗi sáng cà phê, ăn sáng xong, nhà văn rong chơi, tay cầm gói thuốc Salem, lững thững leo lên chiếc xích lô quen đợi sẵn, đi một vòng mấy tòa soạn. Đến tòa soạn nào, Mai Thảo cũng đi thẳng lên phòng sắp chữ, kêu anh xếp ty-pô hỏi, kỳ trước viết tới đâu rồi, để anh viết tiếp.
Phạm Chu Sa mô tả: Nhà văn thời thượng vớ một tờ giấy in thử một mặt, lật mặt trắng phía sau bắt đầu viết. Viết chừng mười dòng, anh xếp ty-pô, xin xé đoạn đó, đưa cho một anh sắp chữ. Rồi nhà văn viết xong đoạn kế, xếp ty-pô lại xin xé tiếp đưa người thợ khác, đặng mà xếp chữ cho kịp.
Phạm Chu Sa kể tiếp: Mai Thảo hầu như cầm bút, chỉ bằng hai ngón tay cái và trỏ, chữ viết lướt nhẹ trên giấy có khi không ăn mực, nét chữ lại rất mềm, như chữ con gái, nên rất khó đọc. Thợ sắp chữ rất sợ đọc chữ Mai Thảo, vì có khi đọc không ra. Mà nhà văn thì, viết vừa đủ số chữ, là liền vất bút giấy, lên xích lô đến tòa soạn khác. Thầy cò sửa lỗi có khi phải đoán mò.
Trong một đoạn khác, Phạm Chu Sa nhận định: Mai Thảo viết văn như thơ, rất phiêu. Đặc biệt, nhan đề các tựa sách của Mai Thảo rất lãng đãng, thơ mộng: Tình Yêu Màu Khói Nhạt, Cũng Đủ Lãng Quên Đời, Mười Đêm Ngà Ngọc, Tháng Giêng Cỏ Non, Gần Mười Bảy Tuổi, Ôm Đàn Tới Giữa Đời. Mai Thảo cũng là vua đặt tên phim bằng tiếng Việt cho các phim Tây nhập khẩu. Tên phim do ông đặt, luôn hấp dẫn và ăn khách. Như phim Doctor Zhivago chẳng hạn, Mai Thảo chuyển thành Vĩnh Biệt Tình Em.
******
VII. MAI THẢO, NGHỆ SĨ, THỦ LĨNH BẨM SINH, TÀI HOA, LỊCH LÃM, BIẾT SỐNG
Đọng trong tôi là điều gì, khi nhắc về nhà văn, nhà thơ mang tên Mai Thảo?
Dạ thưa, đó là sự lớn lao. Dù vẻ như có nói quá lên một chút, thì Mai Thảo trong tôi, là một người có tầm vóc lớn lao.
Tầm vóc ở đây, không mang nghĩa đen, là số đo, chiều cao hay cân nặng. Tầm vóc hiểu theo nghĩa bóng, có nghĩa là tầm cỡ. Ông tầm cỡ, đầy tư chất nghệ sĩ, tư chất thủ lĩnh bẩm sinh, tài hoa, lịch lãm, biết sống.
Biết sống, quan trọng lắm. Có những người, cả một đời, vẫn loay hoay mãi, không biết phải sống làm sao, không biết phải sống theo kiểu nào bây giờ. Mai Thảo khác, ông biết sống. Không chỉ là người tự trọng, ông còn biết cách tử tế với đời và với người.
Ngắm những bức chân dung để lại của Mai Thảo, không biết các bạn có cảm giác sao, chớ còn riêng tôi, tôi thấy khuôn mặt ổng buồn kinh khủng. Cái buồn toát ra từ vẻ người mang tâm sự hoài niệm, của những âm trầm, thâm u, lặng lẽ, ngắm xác thời gian trôi trên dòng sông dài của đời người hữu hạn. Âm trầm của miếu. Thâm u của đền. Như ông tự nhận: Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền.
******
VIII. MAI THẢO, TUYỆT TÀI, NGÒI BÚT VĂN XUÔI ĐẬM CHẤT THƠ
“Cõi không là thơ. Không còn gì nữa hết là thơ. Nơi không còn gì nữa hết là khởi đầu thơ. Một xóa bỏ tận cùng. Từ xóa bỏ chính nó. Tôi xóa bỏ xong tôi. Không còn gì nữa hết. Tôi thơ.”
Đoạn trích trên, tôi lấy từ trong bài thơ Bờ Cõi Khởi Đầu, được Mai Thảo dùng thay cho lời vào tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền. Bài thơ được viết dưới dạng văn xuôi. Thế mà đọc lên, nghe nhịp điệu của nó, nghe những lên bỗng xuống trầm của nó, tôi thấy nó còn hay hơn cả một bài thơ có vần.
Đó chính là tuyệt tài của Mai Thảo.
Thế nên Mai Thảo, trong cương vị nhà văn, ông được giới phê bình đánh giá là ngòi bút văn xuôi đậm chất thơ nhứt nước. Văn xuôi mà còn như vậy, huống hồ gì, khi làm thơ có vần có điệu. Thơ người khác, có khi phải chờ được gợi mở, được phân tích, được giải thích đến hết hơi, thì mới may ra tìm được một, hai, nét thơ. Còn thơ Mai Thảo, thì chỉ cần đọc lên thôi, cũng đã đủ chất thơ rồi.
Khi Mai Thảo mất, anh Khánh Trường có đề nghị với thân nhân và bạn bè của nhà thơ Mai Thảo, khắc lên mộ bia của ông, bài thơ tuyệt cú Không Hiểu:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao, khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.
Không Hiểu là một bài thơ vừa đậm chất thiền, lại cũng vừa rất triết. Đó là một bài thơ rất dễ hiểu, nhưng đọc tới đọc lui một hồi, thì lại thấy mình không hiểu gì hết.
Có phải chăng, hiểu và không hiểu ấy, mới tạo thành chất thơ cho thơ. Và bài Không Hiểu này cùng với Có Lúc và Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền, là bộ ba bài thơ, mà tôi cho rằng hay nhứt, đặc sắc nhứt, trong tập thơ mà Mai Thảo để lại cho đời:
Có lúc nghĩ điều này điều nọ
Cảm thấy hồn như một biển đầy
Có khi đếch nghĩ điều chi hết
Hệt kẻ ngu đần cũng rất hay.
Sài Gòn 04.05.2026
Phạm Hiền Mây