Chính phủ Mỹ lẫn Trung Quốc đều khẳng định mối quan hệ giữa họ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất thế giới. Hai bên cũng đồng ý rằng ngòi nổ cho một cuộc xung đột vũ trang dễ xảy ra nhất giữa họ chính là Đài Loan. Về mặt lý thuyết, việc Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình thảo luận sâu về Đài Loan tại Bắc Kinh hồi tháng trước, và hai nhà lãnh đạo ra về với sự thấu hiểu rõ hơn về lập trường của nhau, đáng lẽ phải là một tín hiệu đáng mừng.
Thế nhưng, hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Trung vừa qua hoàn toàn không mang lại sự an tâm. Trái lại, nó đại diện cho bước đi mở màn của ông Tập trong một nỗ lực bền bỉ nhằm khiến chính quyền ông Trump giữ khoảng cách với Đài Loan. Chuyến thăm của ông Trump vừa mới bắt đầu thì Trung Quốc đã đưa ra một tuyên bố dẫn lại lời cảnh báo mà ông Tập đã gửi tới ông Trump: nếu Đài Loan “được xử lý thỏa đáng, mối quan hệ song phương sẽ có sự ổn định tổng thể”, nhưng nếu không, “hai nước sẽ xảy ra va chạm và thậm chí là xung đột, đẩy toàn bộ mối quan hệ vào tình thế vô cùng nguy hiểm”.
Ông Tập có ý định thay đổi định nghĩa thế nào là được phía Mỹ “xử lý thỏa đáng” đối với vấn đề Đài Loan. Giống như các thế hệ tiền nhiệm, ông Tập tin rằng ngăn chặn Đài Loan độc lập vĩnh viễn là lợi ích quốc gia cốt lõi, và coi quyền tự trị tiếp diễn của hòn đảo là bằng chứng cho thấy cuộc nội chiến Trung Quốc vẫn chưa ngã ngũ. Tuy nhiên, khác với những người tiền nhiệm, ông Tập dường như coi việc đạt được tiến triển rõ rệt trong việc đặt Đài Loan dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc là yếu tố mang tính quyết định đối với di sản của mình. Ngay từ đầu nhiệm kỳ vào năm 2013, ông Tập đã lưu ý rằng câu hỏi Đài Loan không thể cứ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Kể từ đó, ông khẳng định việc giành quyền kiểm soát Đài Loan là trọng tâm của công cuộc phục hưng Trung Hoa — một nhiệm vụ phải hoàn thành vào năm 2049, tròn một thế kỷ sau ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Mặc dù ông Tập đã chỉ thị cho quân đội phải sẵn sàng tiếp quản Đài Loan vào năm 2027, sở nguyện của ông là giành quyền kiểm soát hòn đảo mà không cần tốn một viên đạn. Việc khơi mào chiến tranh, ngay cả với một đối thủ yếu hơn, luôn là điều mạo hiểm — như những gì cuộc xâm lược Ukraine của Nga và chiến dịch quân sự của Mỹ chống lại Iran đã phơi bày rõ ràng. Nếu ông Tập tấn công Đài Loan và rơi vào một cuộc xung đột kéo dài, ông sẽ đánh cược chính quyền lực và tính chính danh của mình. Hơn nữa, ông Tập hiểu rằng sử dụng vũ lực chống lại Đài Loan sẽ phải trả giá bằng sự phát triển kinh tế, bởi Mỹ và các đồng minh, ở mức tối thiểu, sẽ đáp trả bằng cách phong tỏa quyền tiếp cận công nghệ tiên tiến của Trung Quốc và áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế và tài chính làm tê liệt đất nước.
Ông Tập dường như đã đi đến kết luận rằng con đường chắc chắn nhất để kiểm soát Đài Loan mà không cần chiến tranh là nhờ vào ông Trump — người thường xuyên chỉ trích Đài Loan và hoài nghi về tính khôn ngoan của việc bảo vệ hòn đảo này. Tầm ảnh hưởng của ông Tập đã lộ rõ trong những ngày sau hội nghị thượng đỉnh hồi tháng 5, khi ông Trump mượn lại những luận điệu từ Bắc Kinh trong các phát ngôn về chính trị nội bộ Đài Loan và tạm hoãn một thương vụ bán vũ khí đang chờ duyệt cho Đài Bắc. Ông Trump sau đó lặp lại lập luận của mình rằng Đài Loan đã đánh cắp ngành công nghiệp chip của Mỹ, và nói rằng ông không muốn nước Mỹ phải tham gia một cuộc chiến vì Đài Loan cách xa tới 9.500 dặm. Chính quyền của ông đã nhận được thông điệp đó. Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth sau đó đã không hề nhắc đến Đài Loan trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore — đánh dấu lần đầu tiên một bộ trưởng quốc phòng Mỹ bỏ qua Đài Loan trong một bài phát biểu như vậy suốt một thập kỷ qua.
Động cơ đằng sau những bình luận của ông Trump và việc ông gạt bỏ chính sách bán vũ khí cho Đài Loan suốt nhiều thập kỷ của Mỹ hiện vẫn chưa rõ ràng. Đó có thể là niềm tin rằng đây là con đường tốt nhất để hạ nhiệt căng thẳng ở eo biển Đài Loan và tránh một cuộc xung đột vũ trang. Cũng có thể đó là kết luận rằng giảm bớt sự ủng hộ dành cho Đài Loan là cái giá xứng đáng để đổi lấy khả năng tiếp cận thương mại tốt hơn vào Trung Quốc, hoặc một thỏa thuận hòa hoãn rộng lớn hơn với Bắc Kinh.
Mục tiêu của nhà lãnh đạo Trung Quốc thì rõ ràng hơn nhiều. Ông Tập đang tìm cách định nghĩa lại những gì được coi là bình thường trong cách tiếp cận của Mỹ đối với Đài Loan. Nếu Trung Quốc có thể tạo ra những thay đổi trong chính sách của Mỹ nhằm củng cố thêm những hoài nghi về mức độ đáng tin cậy của Washington — những hoài nghi vốn đã gia tăng do thái độ hoài nghi chung của chính quyền ông Trump đối với các đồng minh — nhiều người ở Đài Loan có thể sẽ kết luận rằng họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tìm kiếm một sự dàn xếp theo các điều khoản của Bắc Kinh. Một diễn biến như vậy sẽ gióng lên hồi chuông cảnh báo khắp khu vực. Các đồng minh của Mỹ sẽ quay sang đặt câu hỏi về tính khôn ngoan khi phó mặc an ninh của mình vào tay Washington, dẫn đến một sự dịch chuyển quyết định trong cán cân quyền lực theo hướng có lợi cho Bắc Kinh. Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nhận diện rõ chiến lược này của Trung Quốc và ngừng nhượng bộ đối với các cam kết của Mỹ dành cho Đài Loan — bởi hiện tại, ông Tập đang tiến gần hơn tới thành công mà ông mong muốn.
MỘT TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI
Tại hội nghị thượng đỉnh hồi tháng 5 ở Bắc Kinh, ông Tập dường như đã bắt đầu triển khai hai bước đi trong kế hoạch của mình. Bước đầu tiên là thuyết phục ông Trump rằng Đài Loan đang theo đuổi nền độc lập chính thức, và trừ khi Washington kiềm chế Đài Bắc, một động thái như vậy có nguy cơ kích hoạt một chu kỳ leo thang có thể dẫn đến chiến tranh Mỹ-Trung. Lời lẽ của ông Tập đã đạt được kết quả mong muốn. Trong một cuộc phỏng vấn với Fox News sau hội nghị thượng đỉnh, ông Trump nói rằng Đài Loan “hiện có người ở hòn đảo đó muốn độc lập” và các nhà lãnh đạo Đài Loan “muốn lao vào một cuộc chiến vì họ nghĩ rằng họ có nước Mỹ đứng sau”. Những phát biểu như vậy hoàn toàn trái ngược với thực tế: Đảng Dân chủ Tiến bộ cầm quyền của Đài Loan không theo đuổi nền độc lập và đã phản ứng một cách kiềm chế trước các hành vi khiêu khích quân sự của Trung Quốc.
Bước tiếp theo, và là vấn đề đáng lo ngại cấp bách hơn, là đảm bảo rằng ông Trump không phê duyệt gói vũ khí trị giá 14 tỷ USD đang chờ xử lý cho Đài Loan. Ở điểm này, ông Tập cũng đã đạt được bước tiến. Ông Trump đã bình luận trong cùng cuộc phỏng vấn rằng ông đang giữ gói vũ khí này “trong trạng thái đình hoãn” và coi đó là một “quân bài đàm phán rất tốt”. Ông Trump nói với các phóng viên trên chuyến bay từ Bắc Kinh về nước rằng ông và ông Tập đã thảo luận về việc bán vũ khí “rất chi tiết” — trái ngược với chính sách lâu đời của Mỹ là không tham vấn Trung Quốc về việc bán vũ khí cho Đài Loan. Chính quyền ông Trump nhiệm kỳ đầu tiên từng tái khẳng định cam kết đó, nhưng giờ đây tổng thống đã gạt phắt đi khi được hỏi về nó trên máy bay.
Ngay cả khi gói vũ khí cuối cùng vẫn được tiến hành, sự chậm trễ này vẫn mang lại lợi ích cho Bắc Kinh. Trung Quốc ít lo ngại hơn về việc bàn giao các loại vũ khí cụ thể cho Đài Loan, đặc biệt khi số vũ khí đang được xem xét sẽ không thể tới hòn đảo này cho đến nhiều năm sau khi thương vụ được phê duyệt. Thay vào đó, ý đồ đằng sau việc khiến ông Trump trì hoãn phê duyệt là tạo ra một tiền lệ rằng Washington sẽ tham vấn Bắc Kinh về các thương vụ bán vũ khí trong tương lai, đồng thời gieo rắc sự ngờ vực về mức độ đáng tin cậy của Mỹ — từ đó làm xói mòn quyết tâm tự vệ của Đài Loan và thúc đẩy các xu hướng chính trị thân Trung Quốc trên hòn đảo này.
Và giờ đây, khi ông Tập thấy ông Trump sẵn sàng thương lượng lại các yếu tố cốt lõi trong chính sách đối với Đài Loan đã có từ nhiều thập kỷ của Mỹ, ông sẽ tiếp tục gia tăng sức ép để đòi hỏi thêm nhượng bộ. Chẳng hạn, ông có thể thúc ép ông Trump tuyên bố rõ ràng việc ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc — điều này sẽ đại diện cho một sự chuyển dịch căn bản trong chính sách của Mỹ và làm suy giảm vị thế quốc tế của Đài Loan. Ông Tập có thể ép Washington hạ cấp hợp tác an ninh với Đài Loan, thậm chí với cả Úc và Philippines, điều này sẽ làm suy yếu thêm năng lực răn đe. Ông có thể dỗ dành ông Trump yêu cầu Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi kiềm chế, không can dự vào các vấn đề xuyên eo biển.
Trung Quốc đang cố gắng thiết lập các quy chuẩn mới xung quanh cách Mỹ xử lý vấn đề Đài Loan. Bằng cách lôi kéo ông Trump đưa ra những phát ngôn và hành động mà các tiền nhiệm của ông chưa từng làm, ông Tập đang thiết lập một điểm xuất phát mới để từ đó ràng buộc ông Trump cùng những người kế nhiệm, nếu họ muốn có mối quan hệ hiệu quả với Bắc Kinh trong các lĩnh vực khác. Trung Quốc có thể yêu cầu các tổng thống Mỹ tương lai phải đưa ra những lời cảnh báo tương tự tới các nhà lãnh đạo Đài Loan về vấn đề độc lập và tham vấn Bắc Kinh về việc bán vũ khí như một cái giá để duy trì quan hệ hợp tác. Nếu các chính quyền tương lai từ chối, Trung Quốc có thể dùng sự từ chối đó làm cớ để gia tăng sức ép đối với Đài Loan và thực hiện các hành động trừng phạt chống lại Mỹ. Có thể gọi đó là liên hoàn kế kiểu Trung Quốc.
Trong lúc đó, Bắc Kinh đang gia tăng sức ép lên Đài Loan. Vài tuần sau hội nghị thượng đỉnh của ông Tập với ông Trump, Trung Quốc đã phát động cái gọi là “chiến dịch thực thi pháp luật hàng hải đặc biệt” ngoài khơi bờ biển phía đông Đài Loan, trong đó lực lượng cảnh sát biển của họ can thiệp vào các tàu thương mại. Cảnh sát biển Trung Quốc cũng đi vào vùng nước cấm gần một hòn đảo do Đài Loan kiểm soát ở Biển Đông. Với hai hành động chưa từng có tiền lệ này, Bắc Kinh nhằm khẳng định quyền tài phán của mình đối với các vùng biển của Đài Loan và tạo nền móng cho một lệnh phong tỏa hòn đảo này trong tương lai.
MỌI THỨ VỠ VỤN
Những nhượng bộ mà ông Tập đang thúc ép ông Trump thực hiện được thiết kế nhằm khơi lên những hoài nghi về các cam kết của Mỹ đối với Đài Loan, từ đó phục vụ mục tiêu của Trung Quốc là kéo Đài Loan sâu hơn vào quỹ đạo của mình và làm suy yếu mạng lưới liên minh khu vực của Mỹ. Trước mắt, tổn hại đối với uy tín của Mỹ đe dọa đảo ngược những tiến triển quan trọng mà Đài Loan đã đạt được trong việc tăng cường năng lực phòng thủ. Ngân sách quốc phòng của Đài Loan đã tăng gấp đôi trên danh nghĩa trong thập kỷ qua, hiện đứng ở mức 3,3% GDP, và Đài Loan đang hướng tới mục tiêu 5% GDP vào cuối thập kỷ này — mức chi tiêu mà chính quyền ông Trump yêu cầu các đồng minh NATO phải đạt được vào năm 2035. Vào tháng 5, cơ quan lập pháp Đài Loan đã phê duyệt một khoản ngân sách quốc phòng đặc biệt trị giá 25 tỷ USD để mua sắm các năng lực quan trọng từ Mỹ, như các hệ thống đánh chặn phòng không, tên lửa đất đối không, cùng tên lửa chống tăng và chống thiết giáp.
Nhưng nếu Đài Loan không còn có thể tin tưởng rằng Mỹ sẽ giúp củng cố phòng thủ thông qua các thương vụ bán vũ khí và có khả năng sẽ can thiệp để bảo vệ họ, các chính trị gia Đài Loan sẽ khó lòng lập luận rằng việc tăng thêm chi tiêu sẽ giúp ích cho Đài Loan trong việc răn đe hoặc chống trả một cuộc tấn công từ Trung Quốc. Theo một cuộc khảo sát năm 2026 được thực hiện tại Đài Loan, chỉ có 34% số người được hỏi đồng ý rằng Mỹ “là một quốc gia đáng tin cậy”. Con số này vốn đã giảm hơn 10 điểm phần trăm trong 5 năm qua, và những bình luận cùng sự do dự của ông Trump về thương vụ bán vũ khí có thể khiến nó còn sụt giảm sâu hơn. Khi niềm tin vào sự bảo hộ của Washington xói mòn, các chính trị gia mang tâm lý hoài nghi sẽ càng ngần ngại hơn trong việc cấp vốn cho các khoản ngân sách quốc phòng mà họ coi là vô ích. Lập luận cho việc nhượng bộ nhiều hơn đối với Trung Quốc theo đó sẽ giành được ưu thế. Bắc Kinh hy vọng khai thác lỗ hổng này để đẩy Quốc Dân Đảng đối lập theo hướng thân Trung Quốc rõ rệt hơn, và đưa một Quốc Dân Đảng được cải tổ trở lại nắm quyền vào năm 2028.
Hệ lụy của việc cắt giảm sự ủng hộ của Mỹ dành cho Đài Loan sẽ không dừng lại ở đó. Chính sách của Mỹ đối với Đài Loan được coi là chỉ dấu mang tính quyết định trên khắp khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương về sức mạnh từ các cam kết của Mỹ. Nếu Washington sẵn sàng mang sự ủng hộ dành cho Đài Bắc ra để thương lượng, các quốc gia khác trong khu vực sẽ kết luận rằng họ không còn có thể trông cậy vào Mỹ để đảm bảo an ninh cho mình. Các quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc có thể bắt tay vào các đợt tăng cường quân bị quy mô lớn hơn, cân nhắc việc sở hữu vũ khí hạt nhân, và theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập hơn, không nhất thiết phải phù hợp với lợi ích của Mỹ. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia sẽ kết luận rằng họ có rất ít lựa chọn ngoài việc chiều theo các sở nguyện của Bắc Kinh.
Dù theo cách nào, mạng lưới liên minh vốn là mỏ neo giữ vững vị thế của Mỹ ở châu Á và vẫn là lợi thế trung tâm của Washington trước Bắc Kinh sẽ bị tổn hại nghiêm trọng. Tầm ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ gia tăng, có tiềm năng cho phép Bắc Kinh bóp nghẹt các mối quan hệ thương mại và đầu tư của Mỹ trong khu vực. Khi phải đối mặt với một Trung Quốc táo bạo hơn mà không có các liên minh mạnh mẽ hỗ trợ, nước Mỹ sẽ phải chi tiêu nhiều hơn nữa cho quốc phòng để đảm bảo an ninh của chính mình.
Điều cốt lõi là, sự sụt giảm rõ rệt trong việc Mỹ ủng hộ Đài Loan sẽ khiến các quốc gia khác khó thực hiện các bước đi nhằm tăng cường năng lực răn đe, làm mất ổn định thêm tình hình eo biển Đài Loan. Trong những năm gần đây, Mỹ đã đạt được tiến triển đáng kể trong việc đưa số phận của Đài Loan trở thành một vấn đề được quốc tế quan tâm. Các tuyên bố song phương với Úc, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, Anh và Liên minh châu Âu, cũng như các tuyên bố đa phương từ G7, đã nêu bật tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan. Washington đã khuyến khích các đồng minh và đối tác tăng cường hợp tác với Đài Loan và cân nhắc xem họ sẽ đóng góp như thế nào trong trường hợp xảy ra xung đột. Sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro bị Bắc Kinh thịnh nộ của các quốc gia này phụ thuộc vào sự đảm bảo chỗ dựa từ Washington. Nếu Mỹ hạ cấp các cam kết của mình đối với Đài Loan, họ cũng sẽ đánh giá lại các cam kết của họ.
LẤY LẠI THĂNG BẰNG
Mỹ có những lý do chính đáng để không để Trung Quốc đóng một mũi chêm chia rẽ giữa Washington và Đài Bắc. Từ góc độ quân sự, Đài Loan giữ vị trí then chốt dọc theo chuỗi đảo thứ nhất, trải dài từ Nhật Bản qua Đài Loan và Philippines. Nếu Trung Quốc giành được quyền kiểm soát Đài Loan, họ sẽ dễ dàng triển khai sức mạnh vào Thái Bình Dương và đe dọa lãnh thổ Mỹ hơn rất nhiều; nước Mỹ sẽ phải chật vật để bảo vệ các đồng minh hiệp ước của mình, trên hết là Nhật Bản và Philippines, khỏi sự gây hấn của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ có thể kiểm soát các tuyến đường biển mà Nhật Bản phụ thuộc vào để có năng lượng và lương thực, mang lại cho Bắc Kinh đòn bẩy quá lớn đối với Tokyo. Và sau cuộc xâm lược và mưu đồ chinh phục Ukraine của Nga, một cuộc tấn công của Trung Quốc dẫn đến việc sáp nhập Đài Loan sẽ làm suy yếu thêm quy chuẩn toàn cầu chống lại việc thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực. Nhiều quốc gia sẽ ngang nhiên theo đuổi các tuyên bố đòi lại lãnh thổ, dẫn đến một thế giới hỗn loạn hơn nữa.
Việc để Đài Loan rơi vào quyền kiểm soát của Trung Quốc cũng sẽ là đòn giáng nặng nề vào nền dân chủ tự do. Người dân Đài Loan đã xây dựng được một trong những nền dân chủ mạnh mẽ nhất châu Á bất chấp việc phải đối mặt với mối đe dọa sinh tồn từ một nước láng giềng độc tài hùng mạnh hơn nhiều, và hoạt động phần lớn trong sự cô lập với các quốc gia khác. Đài Loan đứng vững như tấm gương cho các công dân Trung Quốc thấy rằng một xã hội có đa số người dân gốc Hoa có thể phát triển thịnh vượng dưới một nền dân chủ. Việc dập tắt nó sẽ có tác động làm nguội lạnh các khát vọng dân chủ không chỉ trong khu vực mà trên toàn thế giới.
Một cuộc xung đột liên quan đến Đài Loan cũng sẽ tàn phá nền kinh tế. Theo Bloomberg, một cuộc chiến như vậy sẽ khiến 10 nghìn tỷ USD bốc hơi khỏi sản lượng toàn cầu — một cú sốc lớn hơn cả đại dịch COVID-19. Điều này phần lớn là do Đài Loan sản xuất đại đa số các chất bán dẫn tiên tiến nhất thế giới, vốn cần thiết cho mọi thứ từ điện thoại thông minh đến máy tính, vũ khí và máy chủ trí tuệ nhân tạo. Nhưng sản xuất chip không phải là điều duy nhất khiến Đài Loan giữ vai trò trung tâm đối với nền kinh tế toàn cầu. Toàn bộ chuỗi cung ứng AI đều chạy qua Đài Loan và được hỗ trợ bởi một hệ sinh thái gồm hàng trăm công ty Đài Loan. Do đó, Đài Loan hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của Mỹ; Mỹ nhập khẩu từ Đài Loan nhiều hơn từ Trung Quốc. Mặc dù Washington đang tìm cách đưa hoạt động sản xuất chất bán dẫn trở lại trong nước, Đài Loan vẫn sẽ là đối tác kinh tế quan trọng trong một tương lai có thể dự đoán được. Những con chip tiên tiến nhất được sản xuất tại Mỹ ngày nay vẫn cần phải được chuyển đến Đài Loan để xử lý hậu kỳ. Ngay cả khi việc đưa sản xuất trở lại trong nước thành công vang dội, phần lớn các con chip tiên tiến nhất thế giới vẫn sẽ được sản xuất tại Đài Loan trong nhiều năm tới.
Một kịch bản tồi tệ nhất sẽ trở nên dễ xảy ra hơn nếu Trung Quốc thành công trong các nỗ lực thiết lập quy chuẩn mới cho cách Mỹ tiếp cận Đài Loan. Nhưng Washington vẫn có thể phá vỡ chiến lược của Bắc Kinh và khắc phục những tổn hại từ các bình luận của ông Trump về Đài Loan cũng như quyết định tạm dừng bán vũ khí của ông. Nhiệm vụ đầu tiên là phê duyệt gói vũ khí. Ông Tập có thể đáp trả bằng cách hủy chuyến thăm Washington vào tháng 9 tới, nhưng đó sẽ là cái giá rất xứng đáng để ông ra về với sự hiểu biết rằng Đài Loan không phải là thứ ông muốn lấy là lấy được.
Tuy nhiên, để xoa dịu những hoài nghi về cam kết của Mỹ đối với Đài Loan mà ông Trump đã gieo rắc, sẽ cần nhiều hơn là các thương vụ bán vũ khí mới. Chính quyền ông Trump cần thêm hành động để răn đe sự gây hấn của Trung Quốc, chẳng hạn như giúp Đài Loan phát triển ngành công nghiệp quốc phòng trong nước thông qua các liên doanh và chuyển giao công nghệ. Đài Loan cần đầu tư ngay từ bây giờ để đảm bảo rằng họ có thể nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất trong một cuộc khủng hoảng, khi việc tái cung ứng cho hòn đảo này sẽ vô cùng khó khăn. Họ cần sự giúp đỡ của Mỹ để làm điều đó.
Điều quan trọng không kém là Washington nên gửi một tín hiệu mạnh mẽ rằng họ cam kết bảo vệ Đài Loan và kỳ vọng các đối tác của mình sẽ đóng góp vào một hệ thống phòng thủ do Mỹ dẫn đầu. Tổng thống Joe Biden từng đưa ra cam kết công khai như vậy trong 4 dịp riêng biệt, tán thành điều được gọi là “sự minh bạch chiến lược” trên tạp chí Foreign Affairs vào năm 2020. Mặc dù các quan chức cấp cao đáng tiếc đã rút lại các bình luận của tổng thống, điều đáng chú ý là các tuyên bố của ông Biden đã không châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng trong quan hệ Mỹ-Trung. Ngược lại, chúng hoàn toàn có thể đã làm nản lòng Bắc Kinh trong việc thử thách ý chí của Mỹ.
Để làm cho một cam kết như vậy có trọng lượng trong bối cảnh ngày nay, đòi hỏi Mỹ phải duy trì đủ sức mạnh quân sự trong khu vực và các lực lượng của họ phải ở vị trí sẵn sàng ứng phó trong một tình huống bất ngờ tại Đài Loan. Điều đó cũng đòi hỏi Washington phải đẩy lùi các nỗ lực khẳng định quyền tài phán của Trung Quốc đối với Đài Loan, chẳng hạn như bằng cách thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn với lực lượng cảnh sát biển của Đài Loan.
Đồng thời, Mỹ nên làm rõ với Trung Quốc rằng họ không tìm kiếm một cuộc đối đầu. Họ nên trấn an Bắc Kinh rằng Washington không ủng hộ nền độc lập của Đài Loan, rằng họ tiếp tục tuân thủ chính sách “một Trung Quốc”, và rằng họ sẽ ủng hộ bất kỳ giải pháp nào cho các bất đồng xuyên eo biển nhận được sự đồng thuận của người dân Đài Loan.
Nước Mỹ đã răn đe sự gây hấn của Trung Quốc đối với Đài Loan trong nhiều thập kỷ và có thể tiếp tục làm như vậy. Những khó khăn mà quân đội Trung Quốc phải đối mặt khi phát động một cuộc tấn công đổ bộ, lợi thế phòng thủ của Đài Loan, ưu thế của Mỹ trong tác chiến dưới lòng biển, và sức mạnh tổng hợp của các lực lượng đồng minh đều có lợi cho Washington — miễn là nước Mỹ được các đối tác của mình, đặc biệt là Đài Loan và Nhật Bản, coi là đáng tin cậy.
Nhưng giờ đây, Washington cũng phải chống đỡ một hướng tấn công khác từ Bắc Kinh. Một Trung Quốc ngày càng hùng mạnh, tự tin và quyết đoán đang cố gắng siết chặt Đài Loan bằng cách thuyết phục Washington lùi bước trước Đài Bắc từng bước một — bắt đầu bằng việc trì hoãn hoặc hủy bỏ các thương vụ bán vũ khí được đề xuất. Việc chính quyền ông Trump có ngừng rơi vào bẫy của ông Tập hay không tùy thuộc vào chính họ — và phải nhận thức được rằng con đường chắc chắn nhất để ngăn chặn một cuộc xung đột ở eo biển Đài Loan hoặc một vụ tiếp quản tốn kém của Trung Quốc đối với hòn đảo này là không để Bắc Kinh có bất kỳ hoài nghi nào về cam kết của Mỹ đối với Đài Loan.
RICHARD HAASS là Chủ tịch Danh dự của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR), Cố vấn Cao cấp tại Centerview Partners, và là tác giả của Home & Away — một bản tin định kỳ hàng tuần trên nền tảng Substack.
DAVID SACKS là Nghiên cứu viên về Châu Á tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) và là tác giả của cuốn sắp xuất bản mang tên The Realist: Hans Morgenthau and the Purpose of American Power.
Nguồn: Richard Haass và David Sacks, “China Could Win Taiwan Without Fighting”, Foreign Affairs, 22/06/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy (Theo Nghiên Cứu Thế Giới)- https://nghiencuuquocte.org/2026/06/25/trung-quoc-co-the-chiem-dai-loan-ma-khong-can-dong-binh/#more-67551