Chiến lược tiếp theo của Bắc Kinh ở Biển Đông

Lynn Kuok

0 46

Tháng 4/2025, các nhân viên lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc đặt chân lên bãi Hoài Ân, một bãi cát không người ở thuộc quần đảo Trường Sa trên Biển Đông, rồi giương cao lá cờ Trung Quốc. Tại phần lớn các quốc gia trên thế giới, hành động này gần như không được chú ý. Tuy nhiên, nếu được nhìn nhận như lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ Trung Quốc chính thức khẳng định chủ quyền trên thực địa đối với một thực thể nổi không người ở, đây lại là dấu hiệu báo trước một bước ngoặt lớn trong chiến lược mở rộng quyền kiểm soát của Bắc Kinh: sau nhiều năm tập trung vào các tranh chấp quyền tài phán trên biển, Trung Quốc đang quay trở lại chiến lược tranh giành các thực thể địa lý.

Việc Bắc Kinh nhắm tới các thực thể chưa có người ở, chứ không chỉ riêng bãi Hoài Ân, phản ánh một sự chuyển hướng quan trọng kể từ chiến dịch bồi đắp đảo quy mô lớn gần nhất. Trong giai đoạn từ cuối năm 2013 đến năm 2015, khi phần lớn chiến dịch đó được triển khai, Trung Quốc đã nạo vét cát và san hô để mở rộng bảy thực thể mà nước này đã chiếm đóng từ trước, sau đó xây dựng trên đó các cơ sở hạ tầng quân sự và dân sự. Nay, khi mở rộng hoạt động sang cả các thực thể chưa có người ở, Bắc Kinh đang cố tình vi phạm cam kết chính trị ký với các nước thành viên Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2002 về việc không đưa người ra cư trú tại những nơi này.

Song song với đó, Bắc Kinh vẫn tiếp tục cản trở các nước láng giềng thực thi quyền chủ quyền trên biển, quấy nhiễu hoạt động đánh bắt cá và khai thác năng lượng ngoài khơi, đồng thời tự ý tiến hành các cuộc khảo sát hàng hải trái phép sâu bên trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác.

Phương thức hành động của Bắc Kinh cũng đang thay đổi. Các vụ đụng độ cường độ cao xuất hiện thưa thớt hơn, dù những cuộc đối đầu trong tháng này cho thấy xu hướng giảm nhịp đó chưa chắc sẽ kéo dài. Trong khoảng thời gian từ tháng 2/2023 đến tháng 7/2024, tàu cảnh sát biển và lực lượng dân quân biển Trung Quốc thường xuyên sử dụng laser cấp độ quân sự và vòi rồng áp lực cao, thực hiện các động tác điều khiển nguy hiểm, thậm chí chủ động đâm va, nhằm ngăn cản các nhiệm vụ tiếp tế, tuần tra và đánh bắt cá của Philippines.

Khoảng lặng trong nửa đầu năm nay một phần là kết quả từ quyết định của Manila, trên cương vị Chủ tịch ASEAN, nhằm tiết chế chính sách “minh bạch triệt để”, tức liên tục phơi bày trước công luận các hành vi phi pháp và mang tính cưỡng ép của Trung Quốc trên biển. Tuy nhiên, xu hướng hạ nhiệt rộng hơn nhiều khả năng bắt nguồn từ tính toán của Bắc Kinh nhằm tránh các cuộc đối đầu trực diện, trong khi vẫn âm thầm thúc đẩy các yêu sách chủ quyền thông qua những dự án hạ tầng quy mô lớn và các hoạt động ít gây chú ý hơn, như nghiên cứu khoa học biển, khẳng định chủ quyền mang tính biểu tượng trên các thực thể đất liền và neo đậu những cấu trúc nổi tạm thời tại hoặc gần các khu vực đang tranh chấp.

Xét riêng lẻ, những bước đi âm thầm này có vẻ không tạo ra hệ quả đáng kể. Nhưng khi được ghép lại, chúng có thể làm thay đổi toàn bộ cục diện chiến lược. Chúng khiến các quốc gia ven biển khó tính toán hơn, bởi các nước này thường cho rằng từng động thái riêng lẻ của Trung Quốc quá nhỏ để đáng phải mạo hiểm phản ứng bằng những biện pháp có thể dẫn tới leo thang.

Nỗi lo ấy càng trở nên nặng nề trong bối cảnh các quốc gia này đang phải gánh chịu hệ lụy từ cuộc chiến ở Trung Đông cùng chính sách thuế quan càn quét của Mỹ, những áp lực có thể buộc nhiều nước phải điều chỉnh lại quan hệ với Bắc Kinh. Chiến lược củng cố và bình thường hóa quyền kiểm soát cả trên biển lẫn trên đất liền của Trung Quốc đang đe dọa bào mòn trật tự khu vực và làm suy yếu nguyên tắc thượng tôn pháp luật.

Những biện pháp âm thầm hơn này cũng trực tiếp đe dọa một trụ cột quan trọng trong chiến lược khu vực của Mỹ. Washington lâu nay dựa vào việc phơi bày hành vi cưỡng ép và phi pháp của Bắc Kinh để tập hợp các đồng minh và đối tác đứng sau nỗ lực bảo vệ luật pháp hàng hải và duy trì ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực. Một khi các đồng minh và đối tác ngày càng ngần ngại hoặc mất đi khả năng chống trả trước những bước tiến của Trung Quốc, chiến lược đó chắc chắn sẽ sụp đổ.

THÁCH THỨC NGOÀI KHƠI

Cuộc cạnh tranh tại Biển Đông đã kéo dài suốt nhiều thập kỷ. Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, một vùng đất hình thành tự nhiên và nổi trên mặt nước khi thủy triều lên được công nhận là đảo, qua đó có quyền hưởng lãnh hải rộng tới 12 hải lý. Nếu thực thể đó có khả năng duy trì đời sống con người hoặc một nền kinh tế riêng, nó thậm chí có thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế rộng tới 200 hải lý. Ngược lại, các bãi đá khô cằn không có khả năng đó chỉ được hưởng lãnh hải, chứ không có vùng đặc quyền kinh tế.

Các thực thể nổi khi thủy triều lên có thể là đối tượng của yêu sách chủ quyền độc lập, ngay cả khi nằm trong vùng biển của quốc gia khác. Tuy nhiên, những bãi cạn lúc chìm lúc nổi, chỉ xuất hiện khi nước rút, và các thực thể hoàn toàn chìm dưới mặt nước, nếu nằm ngoài lãnh hải, thì không thể được coi là lãnh thổ có chủ quyền. Nếu chúng nằm trọn trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa của một quốc gia ven biển, quốc gia đó được hưởng đầy đủ các quyền chủ quyền và quyền tài phán tương ứng.

Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam đều đưa ra các yêu sách chồng lấn đối với một phần hoặc toàn bộ các thực thể ở Biển Đông. Cùng với Indonesia, các bên yêu sách này cũng khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, vốn chồng lấn với các yêu sách hàng hải của Trung Quốc. Riêng Jakarta khẳng định rằng họ không có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh. Trong khi đó, Trung Quốc, Mỹ và các cường quốc hải quân khác vẫn bất đồng sâu sắc về quyền tự do hàng hải và quyền đi lại vô hại.

Mười năm trước, Tòa Trọng tài Thường trực tại La Haye đã trao cho Philippines một chiến thắng pháp lý toàn diện. Được thành lập để xét xử vụ kiện do Philippines khởi xướng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, tòa đã bác bỏ toàn bộ các yêu sách về “quyền lịch sử” của Trung Quốc trong phạm vi “đường chín đoạn”, một đường ranh hình chữ U bao trùm phần lớn Biển Đông mà Bắc Kinh chưa bao giờ xác định bằng tọa độ địa lý cụ thể.

Tòa cũng làm rõ quy chế pháp lý và quyền hưởng vùng biển của các thực thể tại quần đảo Trường Sa, bãi cạn Scarborough, một rạn san hô nằm phía tây đảo Luzon của Philippines, và bãi Cỏ Rong, một bãi ngầm nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Tòa phán quyết rằng không có thực thể nào trong số này có thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế riêng. Các thực thể nổi khi thủy triều lên nhiều nhất chỉ được hưởng lãnh hải. Riêng bãi Cỏ Rong là một phần thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines.

Dù chỉ có giá trị ràng buộc pháp lý đối với Philippines và Trung Quốc, phán quyết vẫn củng cố đáng kể vị thế của các quốc gia ven biển Đông Nam Á khác. Nó khẳng định rằng cả các yêu sách “quyền lịch sử” lẫn bất kỳ vùng đặc quyền kinh tế nào phát sinh từ các thực thể mà tòa đã xem xét đều không thể lấn át quyền chủ quyền của các nước ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế của chính họ. Tòa không đưa ra phán quyết về chủ quyền đối với các thực thể đất liền đang tranh chấp, bởi vấn đề này nằm ngoài thẩm quyền của tòa.

Trung Quốc lập tức bác bỏ phán quyết, nhưng trong một thời gian đã kiềm chế một số hành vi vi phạm rõ ràng nhất, chẳng hạn cản trở các nước láng giềng tiếp cận tài nguyên hoặc xua đuổi ngư dân không phải người Trung Quốc khỏi bãi cạn Scarborough. Tuy nhiên, ngay khi sự chú ý của quốc tế lắng xuống, các hành vi vi phạm của Bắc Kinh lại tiếp diễn.

Tranh chấp về quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển từ đó trở thành nguồn gốc chính của xung đột. Ban đầu, Bắc Kinh tìm cách răn đe các quốc gia ven biển không thực thi các quyền hợp pháp của mình. Điển hình là những lời cảnh báo nhắm vào Hà Nội trong các năm 2017 và 2018 nhằm buộc Việt Nam ngừng khoan dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Washington khi đó đã làm ngơ. Sau đó, Bắc Kinh lấn tới, liên tục điều tàu xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng để tiến hành khảo sát địa chấn.

Các mỏ năng lượng ngoài khơi trở thành điểm nóng thường xuyên. Năm 2019, một tàu khảo sát Trung Quốc được lực lượng cảnh sát biển hộ tống đã châm ngòi cho cuộc đối đầu kéo dài nhiều tháng với tàu cảnh sát biển và kiểm ngư Việt Nam tại bãi Tư Chính, một thực thể chìm, sau khi con tàu di chuyển ngoằn ngoèo cắt ngang vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quỹ đạo điển hình của một cuộc khảo sát.

Trong nhiều tuần của năm 2020, tàu Trung Quốc liên tục bám theo tàu khoan West Capella do công ty năng lượng quốc gia Malaysia thuê. Trung Quốc cũng duy trì sự hiện diện thường trực quanh khu vực bãi Cỏ Rong, nơi Manila đang theo đuổi các dự án phát triển năng lượng. Ngư nghiệp cũng thường xuyên khơi mào bất đồng, đặc biệt tại bãi cạn Scarborough, bất chấp phán quyết của tòa rằng ngư dân Trung Quốc, Philippines, Đài Loan và Việt Nam đều có quyền đánh bắt truyền thống tại vùng biển này.

Các cuộc đối đầu trên biển leo thang mạnh từ đầu năm 2023, tập trung quanh bãi Cỏ Mây, một bãi cạn lúc chìm lúc nổi nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, nơi tòa đã xác nhận rõ quyền chủ quyền và quyền tài phán của Manila.

Năm 1999, Manila chủ động cho tàu đổ bộ BRP Sierra Madre của hải quân mắc cạn tại đây nhằm ngăn chặn ý đồ chiếm đoạt của Trung Quốc. Từ đó đến nay, một tiểu đội lính thủy đánh bộ Philippines vẫn đồn trú trên tàu và hoàn toàn phụ thuộc vào các chuyến tiếp tế cũng như luân phiên nhân sự định kỳ.

Do BRP Sierra Madre vẫn nằm trong biên chế hoạt động của hải quân Philippines, bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào con tàu hoặc nhân sự trên đó đều có thể kích hoạt các cam kết phòng thủ của Mỹ theo Hiệp ước Phòng thủ Tương trợ Mỹ – Philippines năm 1951.

Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn chặn các nhiệm vụ tiếp tế đã dẫn tới nhiều cuộc đụng độ dữ dội với Philippines, dù cường độ có phần giảm xuống sau khi Manila và Bắc Kinh đạt được một thỏa thuận tạm thời vào tháng 7/2024. Tính đến tháng 3, Manila cho biết đã có 13 nhiệm vụ tiếp tế và luân phiên diễn ra suôn sẻ mà không gặp “sự cố bất trắc”.

Tuy nhiên, rủi ro vẫn còn, một phần vì hai bên vẫn bất đồng về phạm vi của thỏa thuận. Trong tháng này, giới chức Philippines cho biết lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc đã dùng gậy gỗ tấn công một thủy thủ Philippines trong một vụ va chạm ở cự ly gần giữa tàu hai nước.

Các quan chức Philippines cũng cho rằng Bắc Kinh ngày càng lạm dụng tàu nghiên cứu khoa học để củng cố yêu sách, viện dẫn cuộc khảo sát trái phép của Trung Quốc tại bãi Cỏ Rong hồi tháng 5. Trung Quốc cũng neo đậu tàu nghiên cứu trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia và Việt Nam. Theo lực lượng chức năng Philippines, các tàu này ngày càng hoạt động thường xuyên trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này mà không cần tàu cảnh sát biển hay dân quân biển hộ tống, và thường chủ động rút đi khi bị lực lượng sở tại tiếp cận chất vấn.

CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐẤT ĐÁ

Song song với việc tiếp tục thúc đẩy các yêu sách ngoài khơi, Bắc Kinh đang quay lại tập trung vào những thực thể đất liền đang tranh chấp, bao gồm cả các khu vực chưa có người ở.

Tháng 5/2025, Trung Quốc bắt đầu một chiến dịch nạo vét quy mô lớn nhằm mở rộng bãi Hải Sâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, nằm cách bờ biển miền Trung Việt Nam khoảng 215 hải lý về phía đông. Ở trạng thái tự nhiên, bãi này chỉ gồm các dải cát và cồn san hô nhỏ nổi trên mặt nước khi thủy triều lên. Trước khi dự án nạo vét lớn được triển khai, nơi đây đã có một tiền đồn nhỏ của Trung Quốc.

Dự án mới, chiến dịch bồi đắp đảo đáng kể đầu tiên của Trung Quốc trong khoảng một thập kỷ, có quy mô lớn hơn nhiều. Hình ảnh vệ tinh cho thấy bãi này đang trên đường trở thành tiền đồn quân sự lớn nhất của Trung Quốc tại Biển Đông.

Theo đánh giá của Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, khu vực này có đủ không gian để xây dựng đường băng, bến cảng, cơ sở dự trữ tên lửa, kho ngầm cùng mạng lưới cảm biến và tác chiến điện tử hiện đại. Bước đi này sẽ mở rộng tầm giám sát của Trung Quốc tới gần bờ biển Việt Nam, tăng năng lực hỗ trợ và dự phòng cho các hoạt động không quân và hải quân, đồng thời tạo điều kiện để Bắc Kinh mở rộng sự hiện diện dân sự tại quần đảo Hoàng Sa.

Các hoạt động gần đây của Trung Quốc trên đất liền không chỉ giới hạn ở việc bồi đắp quy mô lớn và xây dựng cơ sở hạ tầng. Việc đổ bộ lên bãi Hoài Ân thoạt nhìn chỉ giống một màn giương cờ trước ống kính. Nhưng hành động này mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc.

Bãi cát nằm cách đảo Thị Tứ do Philippines kiểm soát chưa đầy hai hải lý, khiến vùng lãnh hải 12 hải lý của hai thực thể gần như chồng lấn hoàn toàn. Bằng cách cắm mốc tuyên bố chủ quyền tại bãi Hoài Ân, Trung Quốc thu hẹp không gian hoạt động của Philippines quanh một tiền đồn chiến lược, đồng thời đặt nền móng cho những tranh chấp pháp lý trong tương lai.

Chẳng hạn, Bắc Kinh có thể phản đối các hoạt động tuần tra hoặc những hoạt động khác của Philippines quanh đảo Thị Tứ, dựa trên yêu sách kiểm soát vùng biển xung quanh bãi Hoài Ân.

Trung Quốc cũng tìm cách củng cố quyền kiểm soát hành chính tại bãi cạn Scarborough, nơi nước này kiểm soát việc tiếp cận từ năm 2012 mà không cần trực tiếp đưa quân chiếm đóng.

Tháng 9/2025, Bắc Kinh phê chuẩn việc thành lập một khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia tại đây. Biện pháp tưởng như vô hại này thực chất là một cách khẳng định quyền tài phán, cho phép Bắc Kinh biện minh cho các lệnh cấm đánh bắt cá dưới danh nghĩa thực thi pháp luật về môi trường.

Cuối tháng 5, Trung Quốc thả một cấu trúc nổi tại bãi cạn, được các quan chức Philippines cho biết là có người bên trong. Bắc Kinh giải thích đây chỉ là cơ sở nghiên cứu khoa học. Sau khi Manila yêu cầu dỡ bỏ, một tàu nghiên cứu Trung Quốc đã lặng lẽ kéo cấu trúc này đi.

Trong tháng này, các tàu cảnh sát biển Trung Quốc tiếp tục chặn các tàu công vụ Philippines đang vận chuyển nhiên liệu và lương thực cho ngư dân tại bãi cạn. Theo giới chức Philippines, tàu Trung Quốc đã sử dụng vòi rồng và thực hiện các động tác điều khiển nguy hiểm nhằm vào hai tàu Philippines.

Trung Quốc vẫn khẳng định họ có toàn quyền hành động trên những thực thể mà nước này tự tuyên bố chủ quyền. Do vấn đề chủ quyền đối với các thực thể này chưa được phân định, khác với quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển vốn đã được Tòa Trọng tài La Haye làm rõ, phần lớn các hành động của Bắc Kinh trên đất liền nằm trong vùng xám pháp lý. Một số hành động vẫn có thể vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Điều này khiến các chính phủ có ít cơ sở pháp lý vững chắc hơn để thách thức các hoạt động trên đất liền của Trung Quốc so với các hành vi vi phạm trên biển.

Trong gần một phần tư thế kỷ, các bên yêu sách chủ yếu chỉ củng cố những thực thể mà họ đã chiếm đóng và tránh đưa người ra cư trú tại các thực thể chưa có người ở. Đây là chuẩn mực “tự kiềm chế” được Trung Quốc và các nước ASEAN đưa vào Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002, một thỏa thuận chính trị không có tính ràng buộc pháp lý.

Tuy nhiên, các hành động gần đây của Bắc Kinh, được tính toán nhằm bình thường hóa sự hiện diện và từng bước tiến tới chiếm đóng thực tế, đang làm xói mòn chuẩn mực đó.

Những diễn biến này tiềm ẩn nhiều nguy cơ nghiêm trọng. Các quan chức Philippines có lý do để lo ngại rằng Bắc Kinh đang tìm cách thiết lập sự hiện diện lâu dài trên các thực thể chưa có người ở nhằm mở đường cho việc chiếm đóng hoàn toàn trong tương lai.

Nếu Trung Quốc chiếm và quân sự hóa bãi cạn Scarborough, tiền đồn này, kết hợp với mạng lưới căn cứ tại Hoàng Sa và Trường Sa, sẽ tăng gấp đôi khả năng giám sát mọi hoạt động hàng hải và hàng không, đồng thời giúp Bắc Kinh triển khai sức mạnh quân sự trên toàn vùng biển.

Một căn cứ như vậy cũng sẽ mở rộng tầm hoạt động của các cảm biến và năng lực tấn công của Trung Quốc tới gần eo biển Luzon, tuyến hàng hải chiến lược giữa Philippines và Đài Loan, qua đó đặt thủ đô Manila trong tầm hỏa lực của Bắc Kinh.

Hành động của Trung Quốc cũng có thể kích thích các bên yêu sách khác làm theo, làm gia tăng nguy cơ xung đột giữa họ với Bắc Kinh và với nhau. Tất cả những yếu tố này sẽ tiếp tục làm suy giảm triển vọng đạt được Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông, một bộ quy tắc chi tiết hơn và có khả năng mang tính ràng buộc cao hơn mà Trung Quốc và các nước ASEAN đã theo đuổi suốt nhiều thập kỷ.

Ngay cả khi một thỏa thuận cuối cùng khó có thể đạt được, việc các bên vẫn duy trì vẻ ngoài ngoại giao rằng tiến trình đang gần tới đích cũng phần nào giúp bảo vệ sự ổn định mong manh.

CÁI GIÁ CỦA SỰ KHÁNG CỰ

Rất khó ngăn chặn các bước tiến của Trung Quốc. Hoạt động bồi đắp đảo quy mô lớn và những cuộc đụng độ dữ dội trên biển luôn thu hút sự chú ý quốc tế và buộc các bên phải phản ứng. Ngược lại, một hành động cắm cờ hay một cấu trúc nổi tạm thời trên một thực thể nhỏ bé, ít người biết đến, rất dễ bị phớt lờ.

Vụ việc tại bãi Hoài Ân chỉ nhận được phản ứng chiếu lệ từ Washington. Nhà Trắng đơn giản tuyên bố rằng thông tin về việc Trung Quốc chiếm thực thể này là “đáng quan ngại sâu sắc nếu đúng sự thật”.

Ngay cả khi những hành vi như vậy bị phát hiện, các chính phủ vẫn có xu hướng tự trấn an rằng chúng quá nhỏ để đáng phản ứng, hoặc lo ngại rằng việc đáp trả sẽ dẫn tới leo thang với Trung Quốc. Tính chất pháp lý mơ hồ càng khiến họ chùn bước.

Bằng cách này, Bắc Kinh từng bước thay đổi hiện trạng thông qua những tính toán kỹ lưỡng nhằm né tránh các phản ứng mạnh vốn thường xuất hiện sau những hành vi mạo hiểm hoặc vi phạm luật pháp rõ ràng trên biển.

Cho đến nay, Philippines vẫn ở tuyến đầu trong nỗ lực chống lại sức ép của Trung Quốc. Gần đây tự mô tả là “người gìn giữ tự do hàng hải”, Manila cam kết bảo vệ hệ thống hạ tầng pháp lý và vật chất giúp thế giới “được tự do đi lại, giao thương và thịnh vượng”.

Philippines đã tích cực củng cố mạng lưới liên minh an ninh, trước hết là với Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tới Manila ngay sau khi nhậm chức, và chính quyền Trump đã miễn khoản ngân sách khoảng 336 triệu USD dành cho hiện đại hóa quân đội Philippines khỏi sắc lệnh đóng băng viện trợ nước ngoài trên diện rộng.

Cuối năm ngoái, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật cho phép giải ngân tới 2,5 tỷ USD tài trợ đến năm 2030 nhằm giúp Manila mua trang thiết bị quân sự của Mỹ. Tháng 6, Washington tiếp tục phê duyệt chương trình viện trợ 60 triệu USD nhằm nâng cấp ngành năng lượng và thúc đẩy phát triển kinh tế tại Philippines.

Hỗ trợ quân sự có thể nâng cao năng lực trinh sát và tác chiến của Philippines, giúp nước này duy trì tuần tra và các nhiệm vụ tiếp tế. Trong khi đó, viện trợ năng lượng sẽ giúp lấp những khoảng trống mà Bắc Kinh có thể khai thác để làm suy yếu ý chí kháng cự của Manila.

Ngoài liên minh với Mỹ, Philippines cũng mở rộng tuần tra hàng hải chung với Australia và tăng cường hợp tác quốc phòng với Nhật Bản. Manila và Tokyo gần đây còn bày tỏ ý định khởi động đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn theo đúng quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Khu vực chồng lấn này lại giao cắt một phần với vùng đặc quyền kinh tế kéo dài về phía đông từ đảo Đài Loan. Bắc Kinh lập tức lên án các cuộc đàm phán và điều tàu cảnh sát biển tiến hành “tuần tra thực thi pháp luật” nhằm củng cố yêu sách chủ quyền đối với Đài Loan và các quyền lợi hàng hải phát sinh từ đó.

Ngay cả các cuộc đàm phán chỉ nhằm thực hiện nghĩa vụ pháp lý quốc tế cũng có thể kích hoạt phản ứng từ Trung Quốc và làm tăng đáng kể chi phí hợp tác đối với các quốc gia trong khu vực.

ĐỨNG TRƯỚC ÁP LỰC

Dù quyết tâm kiềm chế những hành vi quyết đoán nhất của Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á cuối cùng vẫn có thể nhận thấy cần phải áp dụng một cách tiếp cận linh hoạt và thực dụng hơn đối với tranh chấp Biển Đông.

Sự ổn định và phát triển của khu vực lâu nay phụ thuộc vào việc duy trì quan hệ ngoại giao có thể kiểm soát được với Trung Quốc. Những cú sốc từ bên ngoài, trước hết là cuộc chiến Iran và chính sách thuế quan của Mỹ, kết hợp với bất ổn chính trị trong nước, có thể khiến một mức độ hòa hoãn nào đó với Bắc Kinh trở thành lựa chọn khó tránh khỏi.

Ngay cả một quốc gia cứng rắn như Philippines cũng có thể phải tìm kiếm một thỏa hiệp ngầm. Trong Đông Nam Á, đây là một trong những nước chịu tác động kinh tế nặng nề nhất từ cuộc chiến Iran.

Philippines nhập khẩu khoảng 98% nhu cầu dầu thô từ Trung Đông. Trong tổng số ba triệu công dân Đông Nam Á sống và làm việc tại khu vực này, khoảng 2,4 triệu người là lao động Philippines.

Sự gián đoạn nguồn cung năng lượng và bất ổn của dòng kiều hối đang chồng thêm áp lực lên hậu quả từ thuế quan của Mỹ. Trong khi đó, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. cũng phải đối mặt với sự bất mãn trong nước sau khi những sai phạm tham nhũng trong hệ thống hạ tầng chống lũ được cho là đã góp phần khiến hàng trăm người thiệt mạng năm 2025.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ sáu năm bắt đầu năm 2022, Marcos đã nói rõ với Bắc Kinh rằng tranh chấp hàng hải không phải là “tổng thể” của quan hệ song phương. Đến tháng 3, ông còn cho rằng cuộc chiến Iran có thể tạo thêm “động lực” để đạt thỏa thuận với Trung Quốc về khai thác dầu khí chung.

Chỉ vài ngày sau, chính quyền của ông nối lại đối thoại cấp cao với Trung Quốc về hợp tác năng lượng và giảm căng thẳng trên biển.

Tuy nhiên, hợp tác năng lượng Trung Quốc – Philippines vẫn đầy trở ngại. Các cuộc đàm phán trong các năm 2018 và 2019 đã đổ vỡ do những ràng buộc trong hiến pháp Philippines và việc Trung Quốc từ chối thừa nhận quyền chủ quyền của Manila trong bất kỳ thỏa thuận cuối cùng nào.

Hiện nay, giới lãnh đạo quốc phòng và công chúng Philippines vẫn hoài nghi sâu sắc đối với Bắc Kinh. Bất kỳ động thái nào khiến dư luận nghi ngờ Marcos đang âm thầm bán rẻ lợi ích quốc gia cho Trung Quốc đều có thể gây tổn hại nghiêm trọng tới uy tín chính trị của ông.

Những hành động quấy nhiễu liên tục của Trung Quốc tại và xung quanh các thực thể do Philippines tuyên bố chủ quyền hoặc nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này cũng có thể khiến các cuộc đàm phán thất bại ngay từ đầu.

Tuy vậy, nếu Manila và Bắc Kinh có thể vượt qua các trở ngại và duy trì một giai đoạn giảm bớt đối đầu trực diện, điều mà những cuộc chạm trán cuối tháng 7 cho thấy vẫn chưa thể bảo đảm, thì một quá trình hòa dịu âm thầm vẫn có thể diễn ra.

Điều này không đòi hỏi Manila từ bỏ yêu sách chủ quyền. Trên thực tế, Philippines có thể chủ động tránh các cuộc đụng độ trên biển, giảm mức độ dựa vào việc công khai hành vi của Trung Quốc và dành ưu tiên lớn hơn cho ổn định quan hệ với Bắc Kinh.

Một sự điều chỉnh như vậy từ Philippines sẽ khiến Mỹ và các đồng minh khó thách thức tham vọng mở rộng của Trung Quốc hơn. Vụ kiện pháp lý của Philippines và các cuộc đối đầu rõ ràng với Trung Quốc đã củng cố lập luận của Washington rằng Bắc Kinh đang giẫm đạp lên luật pháp quốc tế và khu vực cần Mỹ hỗ trợ để đối phó.

Nếu Manila lùi bước, Washington sẽ rất khó tập hợp một mặt trận thống nhất nhằm đáp trả các bước tiến của Trung Quốc tại Biển Đông và xa hơn.

GIỮ VỮNG CHIẾN TUYẾN

Sau một thập kỷ trong đó sức ép của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào việc xâm phạm các quyền hợp pháp trên biển của các quốc gia khác, Bắc Kinh giờ đây lại mở rộng hoạt động sang các thực thể đất liền, kể cả những nơi chưa có người ở.

Ở cả hai không gian, mục tiêu của Trung Quốc vẫn nhất quán: tích lũy lợi thế từng bước, thay vì tìm kiếm một chiến thắng mang tính quyết định. Bằng cách kết hợp các chiến thuật âm thầm với những hành động đối đầu mạnh trên biển và các hoạt động trong vùng xám pháp lý trên đất liền, Bắc Kinh đang đặt cược rằng họ có thể dần bình thường hóa quyền kiểm soát trên toàn bộ Biển Đông.

Chỉ dựa vào sức mạnh hải quân thông thường sẽ không đủ để đối phó với chiến lược này. Hải quân Mỹ vẫn đóng vai trò quan trọng trong răn đe và phản ứng trước việc triển khai lực lượng quân sự. Tuy nhiên, Lực lượng Tuần duyên Mỹ phù hợp hơn để xử lý các cuộc chạm trán vùng xám.

Lực lượng này có thể tuần tra cùng các lực lượng chấp pháp biển trong khu vực dưới danh nghĩa thực thi pháp luật, đồng thời đối phó với tàu cảnh sát biển và dân quân biển Trung Quốc với nguy cơ leo thang thấp hơn nhiều so với việc triển khai chiến hạm hải quân.

Việc tiếp tục mở rộng vai trò của Lực lượng Tuần duyên Mỹ trong khu vực sẽ giúp các đồng minh và đối tác giám sát, ghi nhận và công bố hành động của Trung Quốc hiệu quả hơn.

Washington cần phản ứng nhất quán và nhanh chóng trước cả các dự án bồi đắp quy mô lớn lẫn những nỗ lực âm thầm nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc. Mỹ từng đứng cùng Manila để bác bỏ việc Bắc Kinh thiết lập khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia tại bãi cạn Scarborough, nhưng chỉ bày tỏ quan ngại mơ hồ trước vụ đổ bộ lên bãi Hoài Ân và hoàn toàn im lặng trước chiến dịch bồi đắp tại bãi Hải Sâm.

Washington phải nhắc lại với Bắc Kinh rằng nước này có nghĩa vụ tôn trọng cam kết năm 2002 về việc không đưa người ra cư trú tại các thực thể chưa có người ở nhưng đang tranh chấp.

Mỹ cũng cần nhấn mạnh các nguyên tắc và chuẩn mực pháp lý cốt lõi: các bên yêu sách phải kiềm chế, không thực hiện những thay đổi không thể đảo ngược đối với các thực thể, bởi điều đó chỉ làm sâu sắc thêm tranh chấp và cản trở các giải pháp trong tương lai; hoạt động bồi đắp không thể thay đổi quy chế pháp lý hay tạo ra các quyền hưởng vùng biển mới; và việc kiểm soát thực địa, xây dựng cơ sở hạ tầng, cắm cờ hoặc đơn phương quản lý hành chính nhìn chung không thể củng cố vị thế pháp lý của bất kỳ bên nào.

Không điều nào trong số này đòi hỏi Washington từ bỏ lập trường trung lập lâu nay đối với các tranh chấp chủ quyền song phương.

Khi phù hợp, Washington nên hậu thuẫn các tuyên bố ngoại giao bằng những biện pháp trừng phạt kinh tế có mục tiêu, đồng thời hỗ trợ các quốc gia theo đuổi các vụ kiện pháp lý chống lại hành vi phi pháp của Trung Quốc.

Những biện pháp như vậy có thể không đảo ngược được quyền kiểm soát đã được củng cố của Trung Quốc tại những thực thể như bãi Hải Sâm. Tuy nhiên, chúng có thể cản trở quá trình bình thường hóa hành động của Bắc Kinh, làm gia tăng chi phí củng cố quyền kiểm soát và răn đe các toan tính tương tự tại những khu vực khác.

Một ưu tiên cụ thể là ngăn Bắc Kinh bồi đắp và thiết lập tiền đồn thường trực tại bãi cạn Scarborough. Washington và Manila cần thống nhất trước một kịch bản phản ứng phối hợp theo nhiều cấp độ, từ ngoại giao, kinh tế đến quân sự, đối với bất kỳ nỗ lực nào như vậy.

Tất cả những nỗ lực này đều phụ thuộc vào uy tín của Mỹ. Các quốc gia trong khu vực phải tin rằng Washington sẽ hành động đáng tin cậy để đối phó với Trung Quốc mà không gây leo thang không cần thiết, đồng thời tôn trọng chính luật pháp quốc tế mà Mỹ luôn kêu gọi các nước khác tuân thủ.

Washington cần tăng cường can dự kinh tế và ngoại giao trên khắp Đông Nam Á, đồng thời điều chỉnh những chính sách đối với khu vực và thế giới đang làm suy yếu khả năng của các đối tác trong việc chống lại sức ép từ Bắc Kinh.

Trên hết, Mỹ cùng các đồng minh và đối tác phải nhận diện đúng bản chất của những bước tiến của Trung Quốc cả trên biển lẫn trên đất liền, và hành động trước khi tác động tích lũy từ hàng loạt động thái nhỏ kịp định hình một trật tự khu vực hoàn toàn mới.

Nguồn:  Lynn Kuok, “Beijing’s Next Play for the South China Sea”, Foreign Affairs, 29/07/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy- Theo https://nghiencuuquocte.org/2026/07/31/chien-luoc-ke-tiep-cua-bac-kinh-o-bien-dong/#more-68086

Leave A Reply

Your email address will not be published.