Phạm Thị Kiều Ly và “Histoire de l’écriture romanisée du vietnamien (1615-1919)” (Lịch sử chữ quốc ngữ)

Huỳnh Duy Lộc

0 1,090

Nhà sử học Trương Bá Cần cho biết vì sao chữ quốc ngữ đã ra đời tại Thanh Chiêm (Quảng Nam) và Nước Mặn (Bình Định) của xứ Đàng Trong: “Dòng Tên (tiếng La tinh: Societas Iesu, viết tắt SJ) được Ignatius de Loyola cùng với 6 người bạn thành lập vào năm 1534 với sự chấp thuận của Đức Giáo hoàng Paul III và được Toà thánh công nhận vào năm 1540. Chỉ 10-15 năm sau, Dòng Tên đã có trên 1.000 tu sĩ với 100 cư sở và 14 tỉnh dòng. Ngoài 3 lời khấn chung cho mọi tu sĩ, Dòng Tên còn có lời khấn thứ tư là đặt mình dưới quyền sử dụng của Đức Giáo hoàng ở Roma, nghĩa là luôn luôn sẵn sàng đảm nhận bất cứ sứ mạng nào do Đức Giáo hoàng ở Roma giao phó…

Truyền giáo trước kia ở Đông Á là nhằm vào Nhật Bản và Trung Quốc. Cho tới lúc chính quyền Nhật Bản ra lệnh trục xuất các thừa sai người nước ngoài và cấm người Nhật theo Công giáo (27.1.1614), trên toàn Nhật Bản có khoảng 300.000 giáo dân, trong số đó có nhiều vị lãnh chúa. Ngày 8.4.1614, 62 tu sĩ Dòng Tên phải rời Nhật Bản đi Macau hoặc về châu Âu; chỉ còn 18 thừa sai lén lút ở lại. Nhưng kể từ đó, cuộc bách hại Công giáo ở Nhật Bản mỗi ngày mỗi trở nên khốc liệt: các thừa sai lén lút ở lại cũng như các thừa sai mới thâm nhập đều lần lượt bị phát hiện, bị tra tấn và bị giết hại một cách thảm thương.

Không hy vọng truyền giáo ở Nhật Bản, các thừa sai Dòng Tên đã phải đi tìm những vùng đất mới. Ở Đàng Trong, ngày 18.1.1615, xuất phát từ Macau, một đoàn truyền giáo do linh mục Francesco Buzomi dẫn đầu, đã đặt chân lên đất Đà Nẵng, rồi sau đó nhiều nhà truyền giáo nữa của Dòng Tên tiếp tục lên đường. Trong số các tu sĩ Dòng Tên hoạt động ở Đàng Trong suốt thời kỳ này, nổi bật hơn cả là 2 linh mục Buzomi và Alexandre de Rhodes…” (Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam, tập 1, Trương Bá Cần chủ biên, tr. 12, 13)

GS K. W. Taylor đã viết về những tác phẩm của Alexandre de Rhodes và các nhà truyền giáo của Dòng Tên: “Vào năm 1651, Alexandre de Rhodes cho in cuốn “Từ điển Việt – Bồ – La” tại Rome. Đây là cuốn từ điển đầu tiên dùng chữ cái La tinh để ghi âm tiếng Việt. Chính vì vậy, người ta thường cho rằng Alexandre de Rhodes là người đã sáng chế chữ quốc ngữ, nhưng sự thật là chữ quốc ngữ do người Bồ Đào Nha sáng chế và các giáo sĩ Dòng Tên đã vận dụng để hiểu được tiếng Việt. Alexandre de Rhodes đến từ miền Avignon của Pháp, là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên của Dòng Tên đã đến truyền đạo cho người Việt.

Sau khi ở Đàng Trong trong một năm rưỡi để học tiếng Việt, ông ra Đàng Ngoài vào năm 1627, ở lại đó suốt 3 năm rồi bị trục xuất. Sau khi trở về Macau và ở lại đó trong 10 năm, ông trở lại Đàng Trong trong 5 năm (1640-1645), rồi đến Rome vào năm 1649. Alexandre de Rhodes đã cung cấp cho người châu Âu những kiến thức về Đàng Ngoài qua tác phẩm “Vương quốc Đàng Ngoài” ấn hành bằng tiếng Ý vào năm 1650, bằng tiếng Pháp vào năm 1651 và bằng tiếng La tinh vào năm 1652. Sau đó, những tác phẩm về xứ Đàng Trong của những nhà truyền giáo Dòng Tên khác lần lượt ra mắt. Joseph Tissanier (1618-1688) ở Đàng Ngoài từ năm 1658 tới năm 1663 đã viết một bản tường trình bằng tiếng Pháp vào năm 1663. Cũng trong năm ấy, Giovanni Filippo de Marini (1608-1677) truyền giáo ở Đàng Ngoài từ năm 1647 tới năm 1658, đã viết một bản tường trình bằng tiếng Ý được dịch ra tiếng Pháp vào năm 1666.

Một bản tường trình của Christoforo Bori truyền giáo tại Bình Định từ năm 1618 tới năm 1622 đã được dịch ra tiếng Ý vào năm 1631 và chỉ 2 năm sau được dịch ra tiếng La tinh, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hà Lan và tiếng Đức. Alexandre de Rhodes viết một bản tường trình về cuộc truyền giáo ở Đàng Trong được xuất bản bằng tiếng Pháp vào năm 1652. Trong những bản tường trình này là những trải nghiệm của hàng chục nhà truyền giáo của Dòng Tên đã sống ở Đàng Trong và Đàng Ngoài vào tiền bán thế kỷ 17.

Sự khởi đầu của Thiên Chúa giáo ở xứ sở của người Việt thường được gắn kết với các nhà truyền giáo đã viết những bản tường trình bằng những ngôn ngữ của châu Âu, đặc biệt là Alexandre de Rhodes với cuốn “Từ điển Việt – Bồ – La” và cuốn “Phép giảng tám ngày” được ấn hành tại Rome… Sự nhầm lẫn về Alexandre de Rhodes bắt nguồn từ việc cho ông là người sáng chế chữ quốc ngữ trong khi thật ra, chữ cái La tinh đã được các nhà truyền giáo của Dòng Tên vận dụng khi học tiếng Việt và được người Việt vận dụng để học tiếng La tinh, và cả người Việt lẫn người châu Âu đều dùng chữ cái La tinh để dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo mới đến hoặc để phục vụ những mục tiêu riêng… (A History of the Vietnamese, tr. 287, 288)

Tác phẩm “Histoire de l’écriture romanisée du vietnamien (1615-1919)” (Lịch sử chữ quốc ngữ 1615-1919) của Phạm Thị Kiều Ly, Tiến sĩ khoa học ngôn ngữ của Đại học Sorbonne Mới (Université Sorbonne Nouvelle) Paris do nhà xuất bản les Indes Savantes ấn hành ngày 7.11. 2022 đã phân tích quá trình hình thành của chữ quốc ngữ từ năm 1615 vì theo lời cô, “theo các thông tin về Vương quốc Đàng Trong do Fernandes de Costa, thương nhân Bồ Đào Nha, cung cấp thì một nhóm nhà truyền giáo gồm Francesco Buzomi, Diogo de Carvalho và Antonio Dias đã lên các tàu buôn rồi cập cảng Tourane (nay là Cửa Hàn, Đà Nẵng) ngày 18 tháng 1 năm 1615. Sau một thời gian, họ ở lại thương cảng Faifo, là nơi tàu thuyền Bồ Đào Nha và Ý thường xuyên ghé lại và là nơi người Nhật, người Hoa và người Việt cùng nhau chung sống và buôn bán”.

Để giao tiếp với người bản địa, các thừa sai Dòng Tên đầu tiên đến Việt Nam đã theo một phương pháp học hỏi chung: soạn thảo văn phạm và phiên âm ngôn ngữ bản xứ bằng mẫu tự La tinh. Alexandre de Rhodes đã xuất bản cuốn “Dictionarium Annamiticum Lusitanum” tại Roma vào năm 1651, được xem như văn bản nền tảng của việc phiên âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Đến phiên mình, các vị đại diện tông tòa Pháp và các linh mục của Hội Truyền giáo Hải ngoại (Missions Étrangères de Paris) đã đến Đàng Trong và Đàng Ngoài từ năm 1663. Họ thành lập một trường chung ở Ayutthaya (Siam) và các trường địa phương ở Đàng Ngoài với mục đích đào tạo giáo sĩ bản xứ, sử dụng chữ viết La tinh hóa của tiếng Việt.

Năm 1858, người Pháp chiếm Đàng Trong, thay đổi sâu sắc tình hình chính trị, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Chữ viết La tinh hóa của tiếng Việt, gọi là chữ quốc ngữ, đi ra khỏi phạm vi của Giáo hội, được đưa vào chương trình giảng dạy tại Nam kỳ và trở thành chữ viết chính thức khi soạn thảo các văn bản hành chính (1882), rồi sau đó tại Bắc kỳ và Trung kỳ (1884−1885). Được các nhà trí thức Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ, chữ quốc ngữ được giảng dạy với mục tiêu xóa mù chữ. Sau khi bỏ hệ thống thi cử tuyển chọn các quan lại vào năm 1919, nó đã thay thế chữ Hán trong hầu hết các hoạt động xã hội Việt Nam và trở thành chữ viết chính thức của quốc gia vào năm 1945.

Sự thành công của chữ viết La tinh hóa tiếng Việt, chưa từng có trong thế giới chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, là kết quả của hai ý muốn song đôi: ý muốn của thực dân Pháp muốn học tiếng Việt theo cách dễ nhất và làm cho hai nền văn hóa Việt và Pháp xích lại gần nhau, và ý muốn của các văn nhân Việt nhìn thấy đây là một công cụ chiến đấu chống nạn mù chữ.

Ảnh: Tiến sĩ Phạm Thị Kiều Ly trước ngôi nhà thời thơ ấu của Alexandre de Rhodes và tác phẩm “Histoire de l’écriture romanisée du vietnamien (1615-1919)” (Lịch sử chữ quốc ngữ 1615-1919)

(Theo IRFA và lesindessavantes.com)

HUỲNH DUY LỘC giới thiệu

 

Leave A Reply

Your email address will not be published.