Hạnh Thục Ca và sự kiện Thất Thủ Kinh Đô tháng 6 năm Ất Dậu

Tôn Thất Thọ

0 538

Hạnh Thục Ca có thể coi là một cuốn ký sự lịch sử ghi lại một giai đoạn đầy biến động trong triều đình nhà Nguyễn, chủ yếu là từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta cho đến khi vua Hàm Nghi xuất bôn ban dụ Cần Vương kêu gọi nhân dân và sĩ phu cả nước hợp sức chống Pháp.

Tác giả của bài ca này là bà Nguyễn Nhược Thị (còn gọi là Nguyễn Thị Bích) (1830-1909), tên đầy đủ là Nguyễn Nhược Thị Bích, tự là Lang Hoàn. Lịch sử nhà Nguyễn ghi nhận bà một bậc anh tài nhi nữ nổi tiếng: vừa là phi tần của Hoàng đế, vừa giữ chức nữ quan. Đó là Dực Tông đế Tam giai Lễ tần Nguyễn Nhược thị, húy Bích, tự Lang Hoàn, thụy Lễ Thuận.

Bà sinh tại làng Đông Giang, huyện An Phước, phủ Ninh Thuận (nay thuộc phường Đông Hải, thành phố Phan Rang). Cha là Nguyễn Nhược Sơn, nguyên là Bố chính tỉnh Thanh Hóa. Hành trạng của bà được ghi vào Đại Nam chính biên liệt truyện, có thể xem đây là một vinh hiển rất cao đối với một phi tần triều Nguyễn vì Liệt truyện chỉ chép về truyện của các bậc Hoàng hậu.

Nhờ tư chất thông minh, lại được đi học ngay từ nhỏ nên Nguyễn Nhược Thị sớm nổi tiếng về tài văn chương. Vừa có tài có sắc lại được Phụ chính đại thần Lâm Duy Nghĩa tiến cử; năm 18 tuổi (1848) bà được tuyển vào cung qua một cuộc giao tiếp của ông vua văn học yêu mến khách văn chương. Sau đó, bà lần lượt được phong: Tài nhân (1850), Mỹ nhân (1860), rồi Quý nhân. Năm 1868, bà được tấn phong là Lục giai Tiệp dư, và được cử làm thầy dạy “kinh điển và tập nội đình” cho Đồng Khánh, Kiến Phước khi các ông này chưa lên ngôi, vì thế trong cung người ta còn gọi bà là Tiệp Dư Phu Tử.

Như chúng ta đã biết, ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (1885), kinh đô Huế thất thủ, đây là một sự kiện lớn của Việt Nam nói chung và của người dân Thừa Thiên Huế nói riêng. Chính biến này đã được rất nhiều tác giả viết thành thơ, vè hay thành truyện, trong đó bài Hạnh Thục Ca được bà Nguyễn Nhược Thị viết sau khi Kinh thành thất thủ và hoàn thành sau năm 1900.

Kể từ khi tác phẩm hoàn thành, mãi cho đến năm 1950, Hạnh Thục Ca mới được nhà xuất bản Tân Việt cho ấn hành tại Sài Gòn. Người có công phát hiện, biên dịch và chú thích tác phẩm là học giả Trần Trọng Kim (1883-1953). Đây là một bài thơ Nôm dài 1020 câu viết theo thể thơ lục bát phần lớn nội dung kể lại biến cố xảy ra từ khi quân Pháp xâm lược cho đến lúc vua Thành Thái lên ngôi.

Tác phẩm thuật lại nỗi đau khổ của dân chúng trong thời kỳ này, đồng thời nêu gương trung thần nghĩa sĩ đã anh dũng chống ngoại xâm. Nguyên tác không phân đoạn, Trần Trọng Kim đã chia tác phẩm này thành 50 tiểu đoạn, từ tiểu đoạn 1 “Sự kế truyền ở nước Việt Nam” và đến tiểu đoạn thứ 50 “Lễ bát tuần bà Thái hậu”. Nhưng xét tổng quát, về nội dung, tác phẩm có thể chia thành 5 đoạn:

– Đoạn thứ nhất: Tóm lược lịch sử nước ta từ đời Hồng Bàng qua Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đến Nguyễn.

– Đoạn thứ hai: Kể việc Pháp đánh chiếm nước ta.

– Đoạn thứ ba: Việc giao thiệp giữa nước ta và nước Pháp.

– Đoạn thứ tư: Vua Hàm Nghi đi lánh nạn.

– Đoạn thứ năm: Nói về vua Đồng Khánh và vua Thành Thái.

Về lời văn, việc chép sử theo lối diễn ca là việc làm khá phổ biến ở nước ta thời kỳ đó, Ngay trong giai đoạn này, bên cạnh Hạnh Thục Ca còn có các tác phẩm loại sử diễn ca như Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, Việt Sử Diễn Nghĩa.

Trong Hạnh Thục Ca, sự kiện thất thủ kinh đô được tác giả viết trong 233 câu lục bát, từ câu 537 đến câu 770. Qua đó tác giả đã phản ánh những diễn biến xảy ra trong triều đình nhà Nguyễn từ lúc Tôn Thất Thuyết cho lập đồn quân sự ở Tân Sở, rồi cho quân nổ phát súng đầu tiên vào quân Pháp, quân ta thất bại, kinh thành thất thủ và vua Hàm Nghi xa giá ra Quảng Trị để dấy binh khởi nghĩa. Đoạn thơ này miêu tả diễn biến tâm lý tác giả là một phi tần của hoàng triều, với tâm trạng lo lắng cho an nguy của dân tộc, của triều đình. Đoạn thơ còn thể hiện những đoạn đối thoại chân thực của vua, hoàng hậu và các vị quan, quân nhà Nguyễn trong lúc đang tháo chạy ra Quảng Trị.

Mở đầu sự kiện Thất thủ kinh đô, tác giả nhắc đến sự hiềm khích giữa Tôn Thất Thuyết với khâm sứ Pháp:

Việc tôn vừa mới thảnh thơi
Cậy oai Tây lại dở bài mạn khinh.
…Hiếp lần Tây đã chẳng vì
Chọc gan Tôn Thuyết chiến cơ quyết rầy.

Biết được sự việc chẳng lành nên Tôn Thất Thuyết đã cho lập đồn quân sự ở Tân Sở ở Quảng Trị, phòng khi thất bại đến đó để nuôi binh, phục quốc.

Việc đồ trước mới liệu phương,
Lập nơi Tân Sở tính đường vững chân.
Bao nhiêu bảo vật kim ngân,
Chất vào đài gánh dần dần đem đi.

Khi tướng Pháp là De Courcy vào Huế và muốn gặp Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết để bàn việc triều đình, nhưng Tôn Thất Thuyết đã viện cớ bị bệnh để từ chối không đến:

Văn Tường trước tới một mình,
Trình rằng Tôn Thuyết chưa lành bệnh ngay.

Nhưng viên thống tướng Pháp quyết ép để Tôn Thất Thuyết phải đến gặp:

Nếu mà cứ cưỡng không đi,
Quyết rày bắt quách chẳng vì chẳng tha.

Đứng trước tình hình như vậy, Tôn Thất Thuyết đã khởi binh tấn công đồn đóng quân của Pháp tại Mang Cá và Khâm sứ Pháp ngay trong tối ngày 4 tháng 7 (nhằm ngày 22 tháng 5 âm lịch).

Khuyên can chúng thẩy hết điều,
Cất thầm Tôn Thuyết dậy liều nửa đêm.
Phen này may rủi thử xem,
Đã đành cô chú quyết thầm đánh vây
Chẳng cho ai biết ai hay,
Cũng chẳng tấu đạt, một tay thiện hành.
….
Ầm ầm tiếng súng khắp trời,
Khói hun mù đất, lửa ngời lòa mây.
Canh tư tháng phụ chưa hay,
Canh năm nghe báo rất may mừng lòng.
Bình đài thu phục đã xong,
Lầu Tây đương đốt, lửa giong bốn bề.
Phen này Tây ắt phải về,
Ngửa nhờ trời đất phù trì lắm thay.

Sau những phát súng đầu tiên đầy khí thế của quân ta, cứ tưởng rằng phía Pháp đã thất bại, nhưng ai ngờ rằng khi tiếng pháo của ta vừa dứt, thì quân Pháp đồng loạt phản công khiến cho quân ta không tránh khỏi thất bại:

Ai ngờ Tây rất quá khôn,
Để ta bắn trước, thảy luồn nép đi.
Ở ta dại chẳng biết chi,
Nhưng mà hết sức dương uy bắn dồn.
Liệu chừng thuốc đạn đã mòn,
Dấy lên Tây mới thành môn bắn vào.
Dường như sấm sét ầm ào,
Dẫu là núi cũng phải xiêu huống thành.

Thất bại ấy đã khiến nhà vua, Tam cung cùng quan quân và dân chúng phải thoát khỏi kinh thành:

Quân ta khôn sức đua tranh,
Đem nhau trốn chạy tan tành bèo trôi.
Bấy giờ trời đã sáng rồi,
Văn Tường liền khiến gửi lời tâu xin.
Khiêm cung nay phải ngự lên,
Lánh nơi pháo đạn chẳng nên trễ tràng.
Vua tôi hoảng hốt vội vàng,
Hỗ phù thánh giá một đoàn kíp ra.
Tới nơi cửa Hữu xem qua,
Hai bên lê thứ trẻ già quá đông.
Chen nhau dìu dắt mang bồng,
Chực theo từ giá thoát vòng nguy nan.

Trên đường thoát thân, cảnh dân chúng náo loạn và khói lửa mù mịt khắp nơi khiến tình thế càng trở nên hỗn loạn hơn::

Trẻ già la khóc vang rầy,
Xa trông mù mịt khói bay lửa hồng.
Chặt cầu đốt quán tưng bừng,
Là mưu Tôn Thuyết dứt chừng truy binh.
Than thay dân sự tan tành,
Loạn ly mới biết thảm tình nỗi ni…

Sau đó , thượng thư Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi lên Tân Sở để dưỡng binh phục quốc, còn Tam cung thì trở về Huế.

Rằng tàu Tây đã tới bên sông,
Xin hầu chúa thượng kíp toan tiên hành.
Nghe lời cũng dạ hãi kinh,
Ngập ngừng thiếu chúa bài trình xin đi.
Khôn cầm nước mắt biệt ly,
Ân cần huấn dụ khá ghi trong lòng.

Hãy đương tin tức trông mong,
Bỗng đà có thấy sớ phong dâng vào.

Chiêu an các việc xong rồi,
Pháp quan khiến khá hầu người hồi loan.

Qua những đoạn thơ ngắn nói trên, có thể thấy tác phẩm bao gồm những đoạn văn thanh thoát, bố cục từng sự kiện rõ ràng. Mặc dù bài diễn ca được viết trong một giai đoạn ngắn, nhưng giá trị của nó đối với lịch sử Việt Nam thì vẫn có những giá trị nhất định. Tác giả lại chính là người trong cuộc viết về những sự kiện lịch sử mắt thấy tai nghe, nên chúng ta có thể thấy rõ sự kiện một cách chân thực và đáng tin cậy, giúp bổ sung nhiều tình tiết lịch sử trong một giai đoạn bi hùng của đất nước. Khi giới thiệu Hạnh Thục Ca, học giả Trần Trọng Kim đã nhấn mạnh đến giá trị sử liệu của nó. Ông viết:

“Quyển sách này tuy về đường hình thức thì bé nhỏ, nhưng về đường lịch sử, nó có cái giá trị khá lớn, cho nên tôi vui lòng đem in ra để làm một sách bổ quốc sử rất tiện lợi cho những người muốn biết những biến cố ở kinh thành Huế, do một người Việt Nam có địa vị đặc biệt đã kể lại, trong thời kỳ người Pháp mới sang lập cuộc bảo hộ ở đất này…”

TÔN THẤT THỌ (Nguồn Chim Việt Cành Nam)

 

Leave A Reply

Your email address will not be published.