Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và buổi đầu của Saigon

Huỳnh Duy Lộc

0 608

Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm 1650 ở vùng đất nay là thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình, là con trai thứ ba của danh tướng Nguyễn Hữu Dật, là cháu 9 đời của Nguyễn Trãi. Ông nội của ông là Nguyễn Triều Văn ở làng Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa, đã theo Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam…

Lớn lên vào thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh và chuyên tâm luyện tập võ nghệ nên tuy còn trẻ, ông đã lập được nhiều chiến công và đã được chúa Nguyễn Phúc Tần phong chức cai cơ (một chức võ quan thuộc bậc cao) ở tuổi 20, được người đương thời tôn xưng là “Hắc Hổ” (vì ông sinh năm Dần và có nước da ngăm đen) và về sau được chúa Nguyễn phong tước Lễ thành hầu.

Vào những năm 1690-1691, vua Champa là Kế Bà Tranh thường đem quân vượt biên giới, giết hại dân Việt ở Diên Ninh, Diên Khánh. Đầu năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn Hữu Cảnh làm thống binh cùng với tham mưu Nguyễn Đình Quang đem quân bình định biên cương, thành lập trấn Thuận Thành (Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay). Bình định vừa xong, một nhóm người Thanh, đứng đầu là A Bân, xúi giục bè đảng dấy loạn, Nguyễn Hữu Cảnh lại nhận lệnh dẹp loạn rồi được cử làm trấn thủ dinh Bình Khương (còn gọi là Bình Khang, nay là Khánh Hòa – Bình Thuận).

Theo “Đại Nam thực lục tiền biên”, vào tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho trấn thủ Bình Khương là Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất, vào Nam kinh lược. Năm 1699, vua Chân Lạp là Nặc Thu (Ang Saur) đem quân tấn công Đại Việt, chúa Nguyễn Phúc Chu lại cử Nguyễn Hữu Cảnh làm thống binh, cùng với phó tướng Phạm Cẩm Long, tham tướng Nguyễn Hữu Khánh đem quân lính, thuyền chiến hợp cùng Trần Thượng Xuyên lo việc đánh dẹp và an dân. Thủy binh của Nguyễn Hữu Cảnh đã tiến thẳng đến thành La Bích (Pnom Penh), đánh tan quân của Nặc Thu. Sau khi vua Chân Lạp quy hàng, “Nguyễn Hữu Cảnh cho thuyển ghé lại thăm nom, khích lệ dân chúng, dù Miên, Hoa hay Việt, hãy cùng nhau gìn giữ tin thần thân thiện”.

TrỊnh Hoài Đức chép về Nguyễn Hữu Cảnh trong “Gia Định thành thông chí”: “Mậu Dần Hiển Tông Hiếu minh hoàng đế năm thứ 8 (1698) mùa xuân, sai Thống suất chưởng cơ là Lễ thành hầu họ Nguyễn kinh lược nước Cao Mên, lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, đặt xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên (lỵ sở ở thôn Phúc Lư ngày nay); xứ Sài gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt ra các chức lưu thủ, cai bộ, và ký lục để giữ và chăm dân, nha thuộc thì có hai ty Xá sai và Tướng thần lại để làm việc; quân lính thì có tinh binh và thuộc binh thủy bộ các cơ đội thuyền để hộ vệ; mở đất đai nghìn dặm, được dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ dân lưu tán ở châu Bố Chính trở vào để ở cho đầy… Từ đó, con cháu người Hoa ở Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch”.

Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), Nguyễn Hữu Cảnh kéo quân về đóng ở cồn Cây Sao (Cù lao Sao Mộc; về sau, dân địa phương nhớ ơn ông nên gọi là Cù lao Ông Chưởng, nay thuộc Chợ Mới, tỉnh An Giang) và báo tin thắng trận về kinh. Theo “Đại Nam chính biên liệt truyện”, “ở đây một thời gian, ông bị nhiễm bệnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp ngày Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch), ông miễn cưỡng ra dự tiệc để khuyến lạo tướng sĩ, rồi bị trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng. Ngày 14, ông kéo binh về, ngày 16 đến Sầm Giang (Rạch Gầm, Mỹ Tho) thì mất. Khi ấy, chở quan tài về dinh Trấn Biên, rồi đem việc tâu lên, chúa Nguyễn Phúc Chu rất thương tiếc, sắc tặng là Hiệp tán Công thần, thụy là Trung Cần, hưởng dương 51 tuổi. Người Cao Miên lập miếu thờ ông ở đầu châu Nam Vang. Nơi cù lao ông nghỉ bệnh, nhân dân cũng lập đền thờ, được mệnh danh là Cù lao ông Lễ. Còn chỗ dinh Trấn Biên cũng lập miếu thờ”.

“Đại Nam chính biên liệt truyện” chép tiểu sử Nguyễn Hữu Kính (Nguyễn Hữu Cảnh) như sau:

“Nguyễn Hữu Cảnh
Là con thứ Hữu Dật. Lúc trẻ tuổi Hữu Cảnh theo cha đi đánh dẹp, có công được làm Cai cơ. Hiển Tông Hoàng Đế, năm đầu Nhâm Thân (1692), vua Chiêm Thành là Bà Tranh làm phản, lấn cướp Diên Ninh (sau này đổi là Diên Khánh thuộc Khánh Hòa). Chúa cho Hữu Cảnh làm Thống binh cùng với Tham mưu Nguyễn Đình Quang đem quân tiến đánh phá được quân Chiêm, bắt Bà Tranh đem về, đổi nước ấy làm trấn Thuận Thành. Bấy giờ người Bà Tranh là A Ba, dụ dỗ đám quần chúng còn sót của Thuận Thành làm loạn. Hữu Cảnh lại dẹp yên, được thăng Chưởng cơ, lĩnh Trấn thủ doanh Bình Khang.

Năm Mậu Dần (1698) mùa xuân, chúa sai Hữu Cảnh làm Thống suất, đem quân đi kinh lược Chân Lạp, lấy đất Đông Phố, đặt làm phủ Gia Định, phân chia đất ấy, lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long, đặt doanh Trấn Biên, lấy Sài gòn làm huyện Tân Bình, dựng doanh Phiên Trấn. Mở đất nghìn dặm, dân được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chính trở vào Nam cho ở đất ấy. Đặt xã, thôn, phường ấp, khai khẩn ruộng đất, định ngạch tô thuế, làm sổ đinh. Đến lúc về, Hữu Cảnh lại lĩnh trấn như cũ.

Năm Kỷ Mão (1699) mùa thu, vua nước Chân Lạp là Nặc Thu làm phản. Tướng coi doanh Trấn Biên đem việc ấy tâu lên. Chúa lại sai Hữu Cảnh làm Thống suất đi đánh.

Năm Canh Thìn (1700) mùa xuân, Hữu Cảnh đến nơi, bày trận ở Ngư Khê, đắp lũy Hoa Phong, sai người xem tình hình hư thực, chia đường tiến đánh đến sát lũy Bích Đôi (Gò Biếc) phủ Nam Vang. Nặc Thu đón đánh. Hữu Cảnh mặc nhung phục, đứng đầu thuyền, đốc thúc chư quân đánh gấp. Nặc Thu sợ chạy. Nặc Yêm ra hàng. Hữu Cảnh vào thành vỗ yên nhân dân. Nặc Thu cũng đến quân dinh xin hàng, Hữu Cảnh với lòng thành thực vỗ về yên ủi. Cho Nặc Thu về thành La Bích chiêu tập lưu dân. Còn mình dẫn quân về bãi Sao Mộc, báo tin thắng trận. Gặp mưa to gió lớn, núi Lao Đôi ở bãi trước bị sạt lở. Hữu Cảnh đêm mộng thấy thần bảo rằng: “Tướng quân nên về sớm, chứ ở lâu đây không lợi”. Hữu Cảnh cười, rằng: “Mệnh ta ở trời, há ở đất này đâu”. Thức dậy thân thể nhọc mệt. Nhân ngày Tết Đoan ngọ, Hữu Cảnh gượng dậy, cùng uống rượu mua vui với các tướng tá, thình lình thổ ra một cục máu, Hữu Cảnh lấy tay áo che đi, không để cho mọi người biết để yên lòng quân. Đến lúc ốm nặng, Hữu Cảnh than rằng: “Ta muốn nối chí ông cha, hết sức báo nước, ngặt vì số trời có hạn. Chứ há phải sức người làm được đâu?” Bèn dẫn quân về, đến Rạch Gầm. Hữu Cảnh chết, thọ 51 tuổi.

Được tin, chúa rất thương tiếc. Tặng phong Hiệp tán công thần, Đặc tiến Chưởng doanh, thụy Trung Cần, ban cho vàng, lụa để hậu táng. Người Chân Lạp lập đền thờ ở đầu bãi Nam Vang. Ở chỗ ông đóng quân, và ở sông đạo Đông Khẩu là chỗ ông đi qua, nhân dân nhớ công đức, đều lập đền thờ. Người ta gọi bãi ấy là bãi ông Lễ, sông ấy là sông ông Lễ vì tước phong của Hữu Cảnh là Lễ Tài hầu. Bãi Đại Phố Trấn Biên là nơi đỗ quan tài, nhân dân cũng lập đền thờ. Chỗ nào cũng linh ứng. Túc Tông Hoàng Đế năm 12 (1736) truy cấp 50 người làm dân ngụ lộc. Đầu thời trung hưng, truy cấp 5 người giữ đền thờ, mỗi năm chi tiền kho 10 quan để cung cấp việc thờ cúng. Gia Long năm thứ 4 (1805) truy tặng Tuyên lực công thần, Đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân, Cẩm y vệ đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ Đô đốc phủ Chưởng phủ sự Phó tướng chưởng cơ, liệt vào thượng đẳng công thần, thờ phụ vào Thái Miếu, ấm thụ một cháu làm Đội trưởng được thế tập để coi việc thờ cúng, cấp cho 15 mẫu tự điền, 6 người coi mả. Năm thứ 9 (1810) được thờ vào miếu Khai quốc công thần. Minh Mạng năm thứ 12 (1831) truy tặng là Khai quốc công thần Tráng vũ tướng quân, Thần cơ doanh Đô thống, đổi thụy là Tráng Hoàn, tước Vĩnh An hầu, thờ phụ vào Thái Miếu như cũ.

Hữu Cảnh có con là Hữu Tú, làm đến Chưởng cơ Trấn thủ”.

HUỲNH DUY LỘC

Ảnh: Tượng Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh; đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Cù lao Phố, Biên Hòa, Đồng Nai.

Leave A Reply

Your email address will not be published.